Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 15/4/2025

“V/v: Nguyễn Thị P xin ly hôn Nguyễn Duy H"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Bá Ngọc

Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Thư ký phiên toà ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích, Thư ký Toà án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội có công văn số 03/TB-VKS ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc không tham gia phiên toà.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 20/2025/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXX-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 06/2025 ngày 04/4/2025 của Toà án nhân dân huyện T, TP Hà Nội. giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1987

Bị đơn: Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1983

Đều ĐKHKTT: số nhà C, thôn C, xã B, huyện T, Hà Nội.

(Tại phiên toà chị P có mặt; anh H vắng mặt không có ly do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu khác nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Phương trình B:

Chị và anh Nguyễn Duy H trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau, sau đó tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T, Hà Nội năm 2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có sự bất đồng về quan điểm sống, không phù hợp, không có tiếng nói chung. Mặc dù hai bên gia đình đã cố gắng hoà giải, tạo điều kiện để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng nhiều, cuộc sống gia đình rơi vào tình trạng căng thẳng, và đã sống ly thân nhau từ tháng 11/2024 đến nay từ khi sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị trình bày vợ chồng có 02 con chung; 1/cháu Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 14/02/2009 và cháu Nguyễn Duy H2, sinh ngày 10/8/2012. Hiện tại các cháu đang ở với vợ chồng, nếu toà án giải quyết cho tôi được ly hôn anh H, việc các cháu ở với ai cũng được, nếu các cháu ở với tôi tôi sẽ nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh H phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, tôi không đề nghị xem xét giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Duy H: Kể từ khi thụ lý vụ án ngày 11/02/2025 toà án báo gọi nhiều lần nhưng anh H không đến Toà làm việc và đến ngày 21/02/2025 anh H tự khai và trình bày: về thời gian và điều kiện kết hôn anh thừa nhận kết hôn với chị P năm 2007, sau khi kết hôn chị P về làm dâu và chung sống tại gia đình nhà anh, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được 16 năm không sảy ra mâu thuẫn gì. Anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh trình bày vợ chồng có 02 con chung; cháu Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 14/02/2009 và cháu Nguyễn Duy H2, sinh ngày 10/8/2012. Hiện tại các cháu đang ở với anh H, quan điểm anh muốn nuôi cả hai cháu và muốn chị P phải trợ cấp nuôi con chung.

-Về tài sản chung: Anh trình bày không có.

-Về công nợ: anh trình bày nợ 70.000.000đ (bảy mươi triệu)

Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Thị Thu H1 và cháu Nguyễn Duy H2 các cháu trình bày được biết Mẹ P, bố H ly hôn thì các cháu đều xin được tiếp tục ở với bố H.

Tại phiên tòa nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên quan điểm khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị P khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Duy H nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh H có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã B, huyện T, TP Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thủ tục xét xử: Quá trình thụ lý và giải quyết cũng như thông báo về phien tiếp cận công khai chứng cứ và Quyết định đưa ra xét xử vụ án, anh H đều vắng mặt nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên các phiên hoà giải toà án đã báo gọi để hoà giải đối với phần trình bày của anh H để anh có quan điểm về số tiền nợ 70.000.000₫ là khoản nợ nào? Nợ ai? Nhưng anh H đều không có mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét về khoản nợ này tại phiên toà. Do đó tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

[2] Về nội dung vụ án

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào đơn xin ly hôn và quá trình xác minh, thu thập chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Duy H tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, Hà Nội năm 2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được thời gian khoảng 10 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có sự bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Mặc dù hai bên gia đình đã cố gắng tạo điều kiện cũng như hoà giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng nhiều, cuộc sống gia đình rơi vào tình trạng căng thẳng, trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Đến tháng 11/2024 vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Do hai người không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn là chị P xin ly hôn với anh H. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không tham gia phiên hoà giải cũng như có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị P được ly hôn anh H.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung; cháu Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 14/02/2009 và cháu Nguyễn Duy H2, sinh ngày 10/8/2012. Hiện tại các cháu đang ở với anh H. Tại bản tự khai của cháu H1, cháu H2 mong muốn được ở với anh H. Chị P không phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn chị Nguyễn Thị P, cho chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Duy H được ly hôn.

2.Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung; Cháu Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 14/02/2009 và cháu Nguyễn Duy H2, sinh ngày 10/8/2012;

Tiếp tục giao cả hai cháu Nguyễn Thị Thu H1 và cháu Nguyễn Duy H2 cho anh Nguyễn Duy H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành hoặc cho đến khi các bên đương sự có sự thay đổi khác;

Tạm hoãn việc trợ cấp nuôi con cho chị Nguyễn Thị P cho đến khi các đương sự có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị P có quyền thăm hỏi, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Trường hợp cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét, giải quyết trong bản án này.

4.Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Biên lai số 0021119 ngày 11/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai .

5.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Oai;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Oai;
  • - Các bên đương sự;
  • - UBND xã Bình Minh;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN TIẾN DŨNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ - ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn (Nguyễn Thị P - Nguyễn Duy H)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger