TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày 14/3/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hồng
2. Ông Nguyễn Văn Vĩ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 50/2025/TLST-HNG ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1972
Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội
Bị đơn: Anh Lê Xuân T, sinh năm 1968
Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội
Có mặt chị B, vắng mặt anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 05 tháng 02 năm 2025 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Nguyễn Thị B trình bày:
- Về tình cảm: Chị và anh Lê Xuân T lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 05/9/1997 tại UBND xã T, S, Hà Nội. Sau khi lấy nhau chị về làm dâu gia đình anh T ngay, vợ chồng sống cùng gia đình anh T tại thôn H, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, chị có gây ra lỗi lầm với anh T. Sau khi hai bên gia đình hòa giải, vợ chồng về chung sống với nhau nhưng anh T không tha thứ cho chị nên vợ chồng thường cãi nhau, đánh nhau. Từ tháng 7 năm 2024 chị phải bỏ ra ngoài ở trọ, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không quan tâm chăm sóc gì nhau. Chị xác định chị không còn tình cảm gì với anh T nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Lê Thanh T1, sinh ngày 29/5/1998 và Lê Ngọc Á, sinh ngày 11/3/2001. Ly hôn các con đã trưởng thành, khỏe mạnh nên chị không có đề nghị gì.
- Về tài sản, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn là anh Lê Xuân T có lời khai trình bày:
- Về tình cảm: Anh và chị Nguyễn Thị B lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, S, Hà Nội. Sau khi lấy nhau chị B về làm dâu gia đình anh ngay, vợ chồng sống cùng mẹ anh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị B ngoại tình. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng tình trạng vợ chồng không thay đổi, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Từ cuối năm 2024 đến nay chị B tự bỏ nhà đi vợ chồng sống ly thân. Bản thân anh không muốn ly hôn vì nghĩ đến các con nhưng nếu chị B kiên quyết xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh và chị B có 02 con chung là Lê Thanh T1, sinh ngày 29/5/1998 và Lê Ngọc Á, sinh ngày 11/3/2001. Ly hôn các con đã trưởng thành, khỏe mạnh nên anh không có đề nghị gì.
- Về tài sản, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B, cho chị B được ly hôn anh T; Về con chung; về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết; Về án phí: Chị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình tranh chấp tranh chấp về việc ly hôn. Bị đơn là anh Lê Xuân T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn H, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Do vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Thanh B và anh Lê Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, thành phố Hà Nội ngày 05/9/1997. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng chị B, anh T chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, nghi ngờ nhau ngoại tình. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không được. Từ cuối năm 2024 vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc gì nhau từ đó đến nay. Chị B xin ly hôn, anh T đồng ý ly hôn chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị B và anh T có 02 con chung là Lê Thanh T1, sinh ngày 29/5/1998 và Lê Ngọc Á, sinh ngày 11/3/2001. Các con đều đã trưởng thành, chị B, anh T không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Chị B, anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B. Cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Lê Xuân T.
- Về con chung: Hai con chung là Lê Thanh T1, sinh ngày 29/5/1998 và Lê Ngọc Á, sinh ngày 11/3/2001 đều đã trưởng thành, chị B, anh T không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Hai bên không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị B phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn theo biên lai số 0073072 ngày 14/02/2025.
Chị B Nguyễn Thị B có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Xuân T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Thu Trang |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
