Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12 - 6 - 2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Thành

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Bùi Minh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Dũng, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 507/2024/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1974.

    Nơi cư trú: số nhà C, đường L, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  2. Bị đơn: Anh Lục Hoàng T, sinh năm 1986.

    Nơi cư trú: tổ F, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

  3. Người làm chứng: Anh Lê Thanh H1, sinh năm 1993

    Nơi cư trú: số nhà C, đường L, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Tất cả vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Chị và anh Lục Hoàng T quen biết nhau và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2014 có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường B ngày 03/07/2014 số 75, quyển số 01/2014; sau kết hôn chị sống cùng anh T và gia đình chồng tại tổ F, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do anh T làm nghề chạy xe nên rất ít về nhà, khi về nhà thì anh thường xuyên đi nhậu với bạn bè, rồi về chửi mắng vợ con, không quan tâm gì đến gia đình, chị còn phát hiện anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, vì thương con nên chị có gắng nhẫn nhịn. Đến tháng 4/2024, chị quá bức xúc nên đã bỏ về nhà em trai ruột ở tại số nhà C, đường L, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho đến nay. Do tình cảm không còn nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Tuấn

Anh chị có 01 người con chung là Lục Hoàng K, sinh ngày 28/5/2014, hiện cháu đang ở với anh T từ khi anh chị sống ly thân, nay ly hôn chị để cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu K để thuận tiện cho việc học hành của cháu, chị không cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: không có nên chị không yêu cầu gì.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như anh T vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

* Tại biên bản lấy lời khai của những người làm chứng là anh Lê Thanh H1 trình bày:

Anh là em ruột chị Lê Thị H, về mâu thuẫn của chị H và anh T từ khi kết hôn đã xảy ra, anh thường nghe chị H kể là anh T thường xuyên chạy xe tải về nhà là đi nhậu về chửi bới xúc phạm chị H; khi lên nhà chị H thì anh chứng kiến anh T rất nhiều lần chửi mắng chị H, không tôn trọng anh. Đến đầu tháng 4/2024 do mâu thuẫn nên chị H đã về chung sống với gia đình anh cho đến nay, anh mong muốn Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh T.

* Các tài liệu, chứng cứ thu thập được:

  • + Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Căn cước nhân dân; Giấy kết hôn; Giấy khai sinh con chung; Lời khai của nguyên đơn tại bản tự khai, đơn yêu cầu triệu tập người làm chứng, Đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử và xét xử vắng mặt.
  • + Các tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp: Không
  • + Các chứng cứ do Tòa án thu thập được: Biên bản lấy lời khai, căn cước công dân và bản tự khai của người làm chứng; Biên bản xác minh

* Tại phiên tòa hôm nay: Tất cả các đương sự vắng mặt nên không có lời khai nên Chủ tọa phiên tòa công bố đơn của đương sự đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt, tóm tắt nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử thảo luận những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng: đúng các quy định của của Bộ Luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng nhưng cố tình vắng mặt, không hợp tác.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H. Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Lục Hoàng T; Về con chung: Giao cháu Lục Hoàng K, sinh ngày 28/5/2014 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời chị H không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có nên không xem xét. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326, ngày 30/12/2016 của UBTVQH thì chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Kiến nghị: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị H khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Lục Hoàng T. Anh T1 có đăng ký thường trú và đang sinh sống tại tổ F, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Lục Hoàng T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; ngày 22/5/2025 Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyết định hoãn phiên tòa có thông báo thời gian mở lại phiên tòa và tống đạt hợp lệ cho các đương sự, nhưng bị đơn anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Lê Thị H là nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc bị đơn không chấp hành quy định pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 6 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:

3.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Lục Hoàng T tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B (nay là phường B), thành phố L, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75/2014 ngày 03/7/2014, nên hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Quá trình chung sống giữa chị H và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân anh T không lo cho gia đình, thường xuyên ăn nhậu, chị H thường xuyên bị anh T chửi bới xúc phạm; đến tháng 4/2024 chị H về nhà em trai sinh sống cho đến nay. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Tòa án thu thập được nhưng anh T không phản đối nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lục Hoàng T không đến Tòa án trình bày ý kiến, không tham gia hòa giải và phiên tòa xét xử, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thể hiện anh T không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ.

Qua lời khai của anh Lê Thanh H1 là em ruột chị H cũng phù hợp với lời khai chị H; qua kết quả xác minh tại khu phố R, phường B “Ông Lục Hoàng T có sinh sống tại địa phương tổ F, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, ông T làm thuê tự do, vẫn thường xuyên sinh sống tại địa phương. Hiện nay ông T đang sống cùng mẹ và con trai là cháu Lục Hoàng K, sinh năm 2014. Chị Lê Thị H vợ anh Lục Hoàng T đã đi khỏi địa phương, vợ chồng đã ly thân, cụ thể mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm được” nên xác định được tình tiết chị H trình bày mâu thuẫn giữa anh chị là có thật.

Căn cứ vào trình bày của đương sự, những tài liệu chứng cứ thu thập được và tình trạng hôn nhân cho thấy hôn nhân giữa chị H và anh T đã thực sự mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung đã không còn tồn tại trên thực tế nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H với anh T.

3.2 Về con chung: Khi ly hôn chị H giao cháu Lục Hoàng K, sinh ngày 28/5/2014 cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời chị H không cấp dưỡng nuôi con, thấy rằng sau khi xảy ra mâu thuẫn chị H về nhà em ruột sinh sống từ tháng 4/2024 cho đến nay thì cháu K vẫn tiếp tục sống cùng anh T nên ý kiến của chị H là phù hợp với thực tế, ổn định cho việc sinh hoạt và học tập của cháu K nên chấp nhận.

3.3 Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có, nên không xem xét.

[4] Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Quan điểm đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 19; Điều 51; Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Lục Hoàng T.
  2. Về con chung: Giao cháu Lục Hoàng K, sinh ngày 28/5/2014 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời chị H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do anh T không có yêu cầu.

    Chị H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có, nên không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0005675 ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Chi cục THADS TP. Long Khánh;
  • - UBND phường Bảo Vinh, TP Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. (Số ĐKKH: 75 ngày 03/7/2014);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Le Thị Hoa ly hôn Lục Hoàng Tuấn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger