|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11-4-2025
Về việc “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Tấn Thành;
- Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 250/2024/HNGD-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30-8-2024, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày và yêu cầu: Bà và ông Phạm Văn S cưới nhau năm 1992, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh ngày 24-7-1997; C sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do ông S có người phụ nữ bên ngoài, thường đánh đập vợ con, không lo cho gia đình.
Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn S;
Về nuôi con chung: 03 con chung tên Phạm Thị N, sinh ngày 05-11-1994, Phạm Văn N1, sinh ngày 14-02-1995 và Phạm Văn T, sinh ngày 27-4-1996 đều đã thành niên, không yêu cầu giải quyết.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Vụ án không hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Phạm Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt;
- Ngày 31-12-2024, bà Nguyễn Thị L có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt;
- Bị đơn là ông Phạm Văn S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Nguyễn Thị L khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Phạm Văn S; Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
[3] Bị đơn là ông S được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
[5] Xét về hôn nhân:
[5.1] Bà L và ông S chung sống có đăng ký kết hôn ngày 24-7-1997 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông S là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
[5.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà L: Bà L cho rằng bà và ông S phát sinh mâu thuẫn do ông S có người phụ nữ bên ngoài, thường đánh đập vợ con, không lo cho gia đình. Tuy bà L không đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh mâu thuẫn vợ chồng, nhưng xét từ khi xảy ra mâu thuẫn đến nay, bà L và ông S không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà L và ông S mỗi người vẫn tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau; Ông S biết được việc bà L khởi kiện ly hôn nhưng không có ý kiến, không có mặt tham gia hòa giải đoàn tụ và vắng mặt tại phiên tòa, ông S không có ý chí đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa bà L và ông S đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà L yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Ông S không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.
[6] Xét về nuôi con chung: Tất cả 03 con chung tên Phạm Thị N, sinh ngày 05-11-1994, Phạm Văn N1, sinh ngày 14-02-1995 và Phạm Văn T, sinh ngày 27-4-1996 đều đã thành niên, bà L không yêu cầu giải quyết là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận.
[7] Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đề cập. Ông S không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 59 và Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.
[8] Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà L đã nộp đủ án phí; Ông S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Phạm Văn S.
- Về nuôi con chung: 03 con chung tên Phạm Thị N, sinh ngày 05-11-1994, Phạm Văn N1, sinh ngày 14-02-1995 và Phạm Văn T, sinh ngày 27-4-1996 đều đã thành niên, không yêu cầu giải quyết.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0004717 ngày 04-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, bà L đã nộp đủ án phí;
- Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hùng Vương |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị L khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Phạm Văn S
