Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ THIỆN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2025

V/v ly hôn, tranh chấp về con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Thới

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huê và bà Ksor H’Mloet

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 108/2024/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST –HNGĐ ngày 03/4/2025; Thông báo mở lại phiên tòa số 05/2025/TB-TA ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố G, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1984; trú tại: Thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 14/11/2024, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phạm Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh H có thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 10/6/2008 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình chung sống có phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa hai vợ chồng và hai bên gia đình. Bản thân anh H không có công ăn việc làm ổn định, không có trách nhiệm với cùng chị gánh vác, xây dựng kinh tế, chăm lo con cái. Chị đã nhiều lần gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, cụ thể vào năm 2019 và cuối năm 2020. Chị và anh Nguyễn Minh H đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, tình cảm giữa chị và anh H không còn, không thể đoàn tụ sống chung được, do đó, chị yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh H

Về con chung: Chị và anh H có 04 con chung là Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009; Nguyễn Bảo L1, sinh ngày 28/9/2012; Nguyễn Phạm Bảo A, sinh ngày 20/02/2018 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 22/8/2021. Chị và anh H thỏa thuận anh H nuôi hai đứa lớn là Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009 và Nguyễn Bảo L1, sinh ngày 28/9/2012. Chị M nuôi dưỡng hai đứa nhỏ là Nguyễn Phạm Bảo A, sinh ngày 20/02/2018 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 22/8/2021.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh H tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh H có nơi cư trú tại thôn T (Nay là thôn P), xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án một cách hợp lệ cho anh H. Anh H đã biết việc chị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung nhưng anh Nguyễn Minh H không cung cấp bản tự khai, không đến Tòa án để làm việc và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa lần thứ hai anh H cũng vắng mặt không có lý do.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tại phiên tòa:

  • - Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm bản tự khai, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không đến phiên tòa theo Giấy triệu tập.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Phạm Thị M ly hôn với anh Nguyễn Minh H.
  • - Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009; Nguyễn Bảo L1, sinh ngày 28/9/2012 cho anh Nguyễn Minh H trực tiếp nuôi dưỡng. Giao 02 con chung là Nguyễn Phạm Bảo A, sinh ngày 20/02/2018 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 22/8/2021 cho chị Phạm Thị M trực tiếp nuôi dưỡng (phù hợp với nguyện vọng của con chung)
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản, nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội; buộc chị Phạm Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Phạm Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Minh H có nơi cư trú tại thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Nguyễn Minh H không có yêu cầu phản tố đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Minh Hải đăng K kết hôn ngày 10/6/2008 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình, được pháp luật công nhận.

Quá trình chung sống chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Minh H phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã dẫn tới hai vợ chồng đi làm mỗi người một nơi. Anh H không quan tâm vợ con. Hai vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài và không còn tình cảm yêu thương nhau nữa. Nên chị Phạm Thị M làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, và giải quyết việc nuôi con.

Tại biên bản xác minh ngày 17/11/2024 tại thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai thấy rằng Chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Minh H đều đã có cuộc sống riêng hai con chung thì hai đứa lớn sống với anh H1, hai đứa nhỏ thì ở với chị M. Từ đó nhận thấy hôn nhân giữa chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Minh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Phạm Thị M được ly hôn anh Nguyễn Minh H.

- Về con chung: Chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Minh H có 04 con chung là Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009; Nguyễn Bảo L1, sinh ngày 28/9/2012; Nguyễn Phạm Bảo A, sinh ngày 20/02/2018 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 22/8/2021. Hiện tại chị M và anh H đã thỏa thuận 02 cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009; Nguyễn Bảo L1, sinh ngày 28/9/2012 do anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Hai cháu là: Nguyễn Phạm Bảo A, sinh ngày 20/02/2018 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 22/8/2021 do chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Để không làm xáo trộn cuộc sống của con và nguyện vọng của con chung. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 con chung là: Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009; Nguyễn Bảo L1, sinh ngày 28/9/2012 cho anh Nguyễn Minh H trực tiếp nuôi dưỡng. Giao 02 con chung là: Nguyễn Phạm Bảo A, sinh ngày 20/02/2018 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 22/8/2021 cho chị Phạm Thị M trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Minh H tự thỏa thuận không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Phạm Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Minh H.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là: Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009; Nguyễn Bảo L1, sinh ngày 28/9/2012 cho anh Nguyễn Minh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Giao 02 con chung là: Nguyễn Phạm Bảo A, sinh ngày 20/02/2018 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 22/8/2021 cho chị Phạm Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục (phù hợp với nguyện vọng của con chung) cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi), hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 000962, ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản sao hoặc ngày bản án được niêm yết lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phú Thiện;
  • - Chi Cục THS DS huyện Phú Thiện;
  • - UBND xã Ia Piar, huyện Phú Thiện;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Thới

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về con chung

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Mến. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mến được ly hôn với anh Nguyễn Minh Hải. 2. Về con chung: Giao 02 con chung là: Nguyễn Hoàng Long, sinh ngày 08/02/2009; Nguyễn Bảo Long, sinh ngày 28/9/2012 cho anh Nguyễn Minh Hải trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Giao 02 con chung là: Nguyễn Phạm Bảo An, sinh ngày 20/02/2018 và Nguyễn Thảo Nguyên, sinh ngày 22/8/2021 cho chị Phạm Thị Mến trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger