|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HNGD-ST Ngày: 10-4-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Biện Việt Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lữ Duy Minh.
2. Bà Đinh Thị Mỹ Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Vinh – Thư ký Tòa án nhân thị xã La Gi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi: Bà Trần Thị Xuân – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự về Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 390/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1983;
Địa chỉ: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Lê Tấn K, sinh năm: 1979;
Địa chỉ: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt, tại đơn khởi kiện đề ngày 28/10/2024 và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B và ông Lê Tấn K tự nguyện tìm hiểu, sống chung và đăng ký kết hôn năm 2001 tại UBND xã T, huyện H (C), tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian chung sống vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Dù cố gắng hòa giải để sống chung với nhau nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm ngày càng rạn nứt. Hiện tại ông bà không còn sống chung với nhau. Nay bà B xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu được ly hôn với ông K.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Minh Q (Giới tính nam), sinh ngày: 12/10/2001 và Lê Minh Q1 (Giới tính nam), sinh ngày: 15/9/2012. Sau khi ly hôn, hiện cháu Q đã trưởng thành nên bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về cháu Q1 bà B đồng ý giao cháu cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: Bà B không cấp dưỡng nuôi con cho ông K.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Ông Lê Tấn K có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình chuẩn bị xét xử ông Lê Tấn K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông K đồng ý yêu cầu ly hôn của bà B.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Minh Q (Giới tính nam), sinh ngày: 12/10/2001 và Lê Minh Q1 (Giới tính nam), sinh ngày: 15/9/2012. Sau khi ly hôn, ông K có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q1.
- Về cấp dưỡng: Ông K không yêu cầu bà B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Về số nợ của Ngân hàng chính sách đề nghị buộc bà B phải trả khoản nợ này.
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho việc ra quyết định, bản án đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử. Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn, trước khi mở phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu ly hôn và yêu cầu về nuôi con chung của bà Nguyễn Thị B. Về án phí: Bà Nguyễn Thị B là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị B có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Lê Tấn K, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông K cư trú tại thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bà B và ông K: Trước khi mở phiên tòa, bà B và ông K đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc xin vắng mặt là ý chí, nguyện vọng của nguyên đơn, bị đơn. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị B và ông Lê Tấn K đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H (C), tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 14/3/2003. Trong thời gian chung sống, vợ chồng bà B trình bày ông bà không hợp nhau, thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn. Quá trình chuẩn bị xét xử, ông K trình bày đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà B vì ông K cho rằng bà B có mối quan hệ với người đàn ông Khác. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà B và ông K là có thật. Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng thì phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình hạnh phúc, đồng thời phải biết tôn trọng, giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau, nhưng thực tế cuộc sống hôn nhân của bà B và ông K không còn hạnh phúc, ông bà không còn quan tâm, tôn trọng, tin tưởng nhau nên hạnh phúc gia đình ngày càng rạn nứt.
Xét thấy, mâu thuẫn của bà B và ông K đã làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông K là hoàn toàn chính đáng nên được chấp nhận.
- Về con chung:
Có 02 con chung tên Lê Minh Q (Giới tính nam), sinh ngày: 12/10/2001 và Lê Minh Q1 (Giới tính nam), sinh ngày: 15/9/2012. Hiện nay cháu Q1 đang sống cùng ông K. Vì vậy, để đảm bảo ổn định môi trường sống và sinh hoạt hàng ngày của cháu K nên để ông K tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Như vậy cũng phù hợp với nguyện vọng của ông K, bà B và cháu Q1. Đối với cháu Q hiện đã trưởng thành bà B không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét. Về ý kiến của ông K có ý kiến về nợ nhưng không có đơn yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử không xét. Nếu có tranh chấp có thể khởi kiện vụ án khác.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị B là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B được ly hôn ông Lê Tấn K.
[2.2] Về con chung: Giao con chung tên Lê Minh Q1 (Giới tính nam), sinh ngày: 15/9/2012 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, bà B và ông K vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Bà B là người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0012052 ngày 05/12/2024 do Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi thu (Bà B đã nộp đủ).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7A,7B và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[2.4] Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị B và ông Lê Tấn K có quyền kháng cáo bản án trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo đúng quy định của pháp luật (10/4/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Biện Việt Hùng |
Bản án số 18/2025/HNGD-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 18/2025/HNGD-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B được ly hôn ông Lê Tấn K Về con chung: Giao con chung tên Lê Minh Q (Giới tính nam), sinh ngày: 15/9/2012 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng.
