TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/4/2025 “V/v: Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương và bà Nguyễn Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 323/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXX-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐHPT-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1994; địa chỉ nơi cư trú: tổ B, khu phố C, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước (có đơn vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đình G, sinh năm 1993; địa chỉ nơi cư trú: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà T và ông Nguyễn Đình G tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, đăng ký kết hôn vào ngày 07/01/2015 tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông G không lo làm ăn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên hay gây gổ, cãi vã lẫn nhau, đã hoà giải với nhau nhiều lần nhưng không được nên đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Tôi và hai con sống tại nhà cha mẹ ruột ở tổ B, khu phố C, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước, hai cháu cũng đi học ở trường tiểu học T1 gần nhà, còn ông G về nhà mẹ ruột ông G ở khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước sống. Nay tôi nhận thấy tình cảm giữa tôi đối với ông G không còn nữa, cuộc sống chung không thể hàn gắn nên đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 20/8/2015; Nguyễn Bảo D, sinh ngày 17/9/2017. Tôi yêu cầu được nuôi cả hai con, không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Đình G vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn ông G đã được triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện theo quy định.
- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị T, tuyên bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Đình G; Giao cháu Nguyễn Gia H và cháu Nguyễn Duy B cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét; tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét; án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Thủ tục tố tụng: Xác định đây là vụ án “Ly hôn” do bà Lê Thị T khởi kiện, bị đơn là ông Nguyễn Đình G cư trú tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Sự vắng mặt của các đương sự: Ngày 20/02/2025, nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà T đã có lời khai nên việc vắng mặt là hợp lệ. Bị đơn ông Nguyễn Đình G mặc dù được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, việc ông G không đến Tòa để tham gia tố tụng là đương nhiên từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Đình G tự nguyện chung sống với nhau và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 02/2015, ngày 07/01/2025. Căn cứ Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp, bà T có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông G đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn ông G vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và ông G biết nhưng không có ý kiến gì thể hiện ý chí nguyện vọng hàn gắn gia đình cũng như đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của mình, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu-chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét.
Theo lời trình bày của bà T, từ khi kết hôn năm 2015 đến năm 2022 cuộc sống chung của vợ chồng có hạnh phúc, nhưng sau đó mâu thuẫn phát sinh do bất đồng quan điểm trong mọi việc, ông G không tu chí làm ăn, không cùng vợ chăm lo, phụ giúp gia đình, nuôi dạy con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi nhau. Mặc dù nhiều lần hoà giải, nói chuyện nghiêm túc về tình trạng hôn nhân nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống riêng hơn 02 năm nên không thể quay về hàn gắn tình cảm tiếp tục cuộc hôn nhân, do bà không còn tình yêu thương đối với ông G, bà có nguyện vọng được ly hôn.
Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và phải có sự đồng thuận từ hai phía, nhưng bà T cho rằng cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho nhau nên kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nguyện vọng được ly hôn với ông G. Do đó, có căn cứ xác định cuộc sống hôn nhân của bà T và ông G không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài do mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T được ly hôn với ông G là phù hợp, đúng quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Bà T và ông G có 02 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 20/8/2015; Nguyễn Bảo D, sinh ngày 17/9/2017, bà Thương yêu C được nuôi hai con, không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con; nguyện vọng của hai cháu Nguyễn Gia H và Nguyễn Bảo D cũng muốn được ở với mẹ. Xét thấy, bà T xác định các con đều do bà trực tiếp chăm sóc từ nhỏ, khi sống riêng năm 2022 đến nay cũng tự bà chăm lo nuôi dưỡng hai con; ông G biết được yêu cầu cầu nuôi các con của bà T nhưng không đến Toà án làm việc, không thể hiện ý chí nguyện vọng nuôi các con. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt, việc học tập của các con được ổn định cần chấp nhận nguyện vọng của bà T và các con, giao hai con cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[2.3] Tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 4, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Đình G (Giấy chứng nhận kết hôn số 02/2015, ngày 07/01/2025 do UBND phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước cấp).
2. Con chung: Giao con Nguyễn Gia H, sinh ngày 20/8/2015 và Nguyễn Bảo D, sinh ngày 17/9/2017 cho bà Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
3. Tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001782 ngày 19/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Bà T đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Lê Thu Huệ |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn