Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10-02-2025

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Phước Tâm.
  2. Ông Võ Thị Điệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 754/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 656/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm G - sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Trần Công N - sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2024, nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm G trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị G trình bày chị và anh Trần Công N có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận kết hôn số 014/2015, quyền số 01/2015 cấp ngày 29/01/2015.

Vợ chồng chung sống với nhau lúc đầu vẫn có hạnh phúc. Sau thời gian chung sống thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cách sống, không tìm được tiếng nói chung, sống với nhau không còn hòa hợp. Hai bên đã tìm cách hàn gắn lại hôn nhân nhưng không được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chung sống không có hạnh phúc nên chị G yêu cầu được ly hôn với anh Trần Công N.

- Về con chung: Chị G xác định vợ chồng có 02 con chung tên Trần Hoài N1 - sinh ngày 01/01/2015 và Trần Minh A - sinh ngày 20/02/2021, hiện nay các con chung đang sống với chị G. Khi ly hôn, chị G yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung, chị G không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa giải quyết.

* Đối với bị đơn là anh Trần Công N đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng các giấy triệu tập hợp lệ nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh N.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm Bản sao giấy chứng nhận kết hôn và Bản sao Giấy khai sinh con chung; Tòa án đã thông báo cho bị đơn biết các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp nhưng bị đơn vẫn không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn, nuôi con chung và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh Trần Công N hiện đang cư trú ở xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Công N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm G có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với chị G và anh N.

[4] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm G yêu cầu được ly hôn với anh Trần Công N và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung; Hội đồng xét xử nhận định:

[5] Căn cứ Bản sao Trích lục kết hôn số 763/TLKH-BS, ngày 08/10/2024 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã thể hiện chị Lê Thị Cẩm G và anh Trần Công N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 29/01/2015, như vậy đã có đủ cơ sở xác định mối quan hệ hôn nhân của anh N và chị G là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[6] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giải thích, hòa giải, động viên các đương sự đoàn tụ gia đình, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, chị G cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, vợ chồng đã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và không còn sống chung với nhau nên tình cảm vợ chồng cũng không còn, không thể đoàn tụ được; do đó, chị G vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh N. Đối với bị đơn anh Trần Công N đã được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa sơ thẩm nhưng anh N không tham dự, chứng tỏ anh N đã bỏ mặc và không còn quan tâm đến quyền và nghĩa vụ của mình trong mối quan hệ với chị G.

[7] Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh N có tồn tại mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không đạt được mục đích như quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình nên không thể kéo dài. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của chị G về việc xin ly hôn với anh N là có cơ sở nên chấp nhận.

[8] Về con chung: Theo trình bày của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chị G và anh N có 02 con chung Trần Hoài N1 - sinh ngày 01/01/2015 và Trần Minh A - sinh ngày 20/02/2021, các con chung hiện đang sống với chị G; khi ly hôn, chị G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Đồng thời, theo nguyện vọng của con chung cũng muốn sống với chị G trong trường hợp chị G và anh N ly hôn. Bởi lẽ đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị G; giao các con chung gồm Trần Hoài N1 - sinh ngày 01/01/2015 và Trần Minh A - sinh ngày 20/02/2021 cho chị Lê Thị Cẩm G được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh N có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

[9] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cấp dưỡng cho con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị G không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con; do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[10] Về tài sản chung: Chị G xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về nợ chung: Chị G xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[12] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; chị Lê Thị Cẩm G phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Cẩm G.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm G được ly hôn với anh Trần Công N.
  2. Về con chung: Giao các con chung Trần Hoài N1 - sinh ngày 01/01/2015 và Trần Minh A - sinh ngày 20/02/2021 cho chị Lê Thị Cẩm G được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; chị Trần Công N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị G không có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
  4. Về nợ chung: Chị G xác định không có nên yêu cầu giải quyết.
  5. Về án phí: Tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Lê Thị Cẩm G phải chịu, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị G đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001747 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; như vậy chị G đã nộp xong án phí.
  6. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND HCL;
  • - Đương sự;
  • - CC THADS HCL;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Trương Trường Chinh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm Giang được ly hôn với anh Trần Công Nhân. 2. Về con chung: Giao các con chung Trần Hoài Ngọc - sinh ngày 01/01/2015 và Trần Minh Anh - sinh ngày 20/02/2021 cho chị Lê Thị Cẩm Giang được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; chị Trần Công Nhân không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Giang không có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger