Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - THANH HÓA

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08 tháng 12 năm 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Lược và ông Vũ Văn Thoa.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa, xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 36/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Hoài A, sinh năm 1999.

    Địa chỉ: Số nhà B, phố Đ, tổ F, khu C, phường B, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

  2. Bị đơn: Anh Lưu Quốc T, sinh năm 1997.

    Địa chỉ: số nhà A, đường N, khu phố A, phường Q, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/8/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đoàn Thị Hoài A trình bày: Chị và anh Lưu Quốc T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 10/02/2023 tại Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân phường ba Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (nay là Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Thanh Hóa). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không quan tâm đến gia đình, vợ, con và nhiều lần đánh đập chị Hoài A. Chị Hoài A đã khuyên can nhiều lần và cho anh T nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng vẫn không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Do không thể chung sống được nên chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Hoài A đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lưu Quốc T.

Về con chung: Chị Hoài A khai, vợ chồng có một con chung, cháu tên là Lưu Linh Đ1, sinh ngày 04/9/2023, hiện nay cháu đang ở với chị Hoài A. Chị Hoài A đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Linh Đ1 không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, hiện nay chị đang làm kinh doanh, thu nhập hàng tháng từ 20 đến 30 triệu đồng đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản: Chị Hoài A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án đã tống đạt hợp lệ, triệu tập anh Lưu Quốc T đến Toà án để viết bản tự khai nhưng anh T không có mặt tại Tòa án mà không có lý do nên không có lời khai của anh T. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương và gia đình, tuy nhiên khi đến gia đình nhiều lần nhưng không có ai ở nhà. Chính quyền địa phương cho biết hiện anh T không có mặt tại địa phương, anh T đi làm ở Hà Nội nhưng không chuyển đăng ký thường trú cũng không đăng ký tạm trú tại địa chỉ nào nên chính quyền địa phương không rõ địa chỉ cụ thể hiện nay của anh T. Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với anh Lưu Quốc T để anh T biết đến Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn nhưng anh T vẫn không có mặt tại Tòa án để làm việc.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Quá trình nhận đơn khởi kiện, thụ lý, giải quyết, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã được thực hiện các quyền của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Hoài A đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với anh T và được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Linh Đ1 là phù hợp với quy định tại Điều 56; Điều 81, 82, 83, khoản 1, Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Hoài A. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoài A về việc không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Lưu Quốc T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng anh T không có mặt tại Tòa án mà không có lý do nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Anh T1 cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn không có mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về hôn nhân: Chị Đoàn Thị Hoài A và anh Lưu Quốc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Hoài A, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 10 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không quan tâm đến gia đình, vợ con và nhiều lần đánh đập chị. Kết quả xác minh ngày 27/9/2025 có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B cũng cho thấy, quá trình chung sống giữa chị Hoài A và anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Như vậy, trong cuộc sống vợ chồng giữa chị Hoài A và anh T luôn xảy ra mâu thuẫn, xung đột dẫn đến vợ chồng sống ly thân, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Hoài A được ly hôn anh T là phù hợp.

[3]. Về con chung: Chị Hoài A khai, vợ chồng có một con chung, cháu tên là Lưu Linh Đ1, sinh ngày 04/9/2023. Chị Hoài A cũng xuất trình cho Tòa án bản sao giấy khai sinh của cháu Linh Đ1, trong đó xác định cháu Linh Đ1 là con chung của chị Hoài A và anh T. Mặt khác, cháu Linh Đ1 được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nên đủ cơ sở khẳng định cháu Linh Đ1 là con chung của chị Hoài A và anh T. Cháu Linh Đ1 chưa đủ 36 tháng tuổi lại đang do chị H anh trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, giao cháu Linh Đ1 cho chị Hoài A trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoài A về việc không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81; 82; 83, khoản 1, Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Về tài sản: Chị Hoài A không yêu cầu Toà án giải quyết, nên miễn xét.

[5]. Về án phí: Chị Hoài A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 56; Điều 81; 82; 83, khoản 1, Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 6; khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị Hoài A và anh Lưu Quốc T.

  2. Về con chung: Công nhận cháu Lưu Linh Đ1, sinh ngày 04/9/2023 là con chung của chị Hoài A và anh T. Giao cháu Linh Đ1 cho chị Hoài A trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh T1 không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Hoài A.

  3. Về án phí: Chị Đoàn Thị Hoài A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Hoài A đã nộp theo biên lai thu tiền ký hiệu BLTU/25, số 0002109 ngày 04/8/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Thanh Hóa. Chị Hoài A đã nộp đủ tiền án phí.

  4. Về quyền kháng cáo: Chị Hoài A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND khu vực 6 – Thanh Hóa;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thanh Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Hoàng Văn Lược

Vũ Văn Thoa

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trịnh Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 giữa Đoàn Thị Hoài A-Lưu Quốc T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger