TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:18 /2025/HNGĐ-ST
Ngày 08/4/2025
Về vụ: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Hoan.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phan Thị Thúy Hằng và ông Đào Quyết Hận.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Rum Ba - Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tham gia phiên tòa: ông Bùi Xuân Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 196/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 về "tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: ông Phạm Ngọc B, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: bà Đoàn Thúy G, sinh năm 1980; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Phạm Ngọc B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông B và bà G kết hôn tự nguyện tìm hiểu nhau, vào năm 2004 tổ chức cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sau khi kết hôn hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, nên tháng 5/2023 ông B bỏ về nhà cha, mẹ ruột sinh sống, trong thời gian này ông B, bà G không ai quan tâm đến ai. Nay mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn quay lại sống chung với nhau được, nên ông B kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông B được ly hôn với bà G để ổn định cuộc sống của hai bên.
Về con chung: ông B và bà G có ba người con chung tên Phạm Duy Phương N, sinh ngày 11/02/2006; Phạm Ngọc T1, sinh ngày 30/5/2008 và Phạm Ngọc K, sinh ngày 19/4/2021. Hiện nay cháu N đã thành niên có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân được, nên ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết, riêng cháu K, T1 hiện nay sống chung với bà G, ông B. Nay ly hôn ông Biên nhận nuôi hai con và không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: ông Phạm Ngọc B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản khác cho bà Đoàn Thúy G, nhưng bà G không đến Tòa án tham gia tố tụng cũng như không có lời trình bày.
Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa không tiến hành hòa giải được do vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định tố tụng.
- Về nội dung vụ án: về quan hệ hôn nhận: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông B, ông Phạm Ngọc B được ly hôn với bà Đoàn Thúy G.Về con chung: giao con chung tên Phạm Ngọc T1 và Phạm Ngọc K cho ông Phạm Ngọc B tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; đối với con chung tên Phạm Duy Phương N, sinh ngày 11/02/2006 đã thành niên có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân được, ông B không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung: nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Nguyên đơn chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: quan hệ hôn nhân giữa ông Phạm Ngọc B và bà Đoàn Thúy G có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay ông B xin ly hôn. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Bà G cư trú tại xã H, huyện P, nên Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa thụ lý giải quyết. Bị đơn bà Đoàn Thị G1 vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: ông Phạm Ngọc B và bà Đoàn Thúy G tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại UBND xã H, huyện P theo Giấy chứng nhận kết hôn quyển số 1, số 36 ngày 14/9/2004 nên hôn nhân giữa ông B và bà G là hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, ông B và bà G xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông, bà không hợp nhau về tính tình, không cùng quan điểm sống nên xảy ra kình cãi, Dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng mâu thuẫn của ông, bà vẫn xảy ra và kéo dài, đời sống hôn nhân không hạnh phúc và xa nhau từ tháng 5/2023; nên ông B xin ly hôn. Đối với bà Đoàn Thúy G đã được thông báo về việc ông B xin ly hôn, được triệu tập đến Tòa án tham gia phiên tòa xét xử vụ án, nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, theo biên bản ghi lời khai ngày 10/01/2025 bà G không chấp nhận ly hôn, nhưng không nộp cho Tòa án văn bản nêu lý do tại sao và chứng cứ kèm theo của bà đối với yêu cầu khởi kiện của ông B. Điều đó thể hiện bà G không có ý thức hàn gắn quan hệ vợ chồng với ông B. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của ông B và bà G xảy ra là có thật và không ai muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Do đó, dù có duy trì hôn nhân của ông, bà về mặt pháp lý thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không còn tồn tại; nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông B; ông B được ly hôn bà G.
[3] Về con chung: trong quá trình chung sống, giữa ông Phạm Ngọc B và bà Đoàn Thúy G có 03 con chung tên Phạm Duy Phương N, sinh ngày 11/02/2006; Phạm Ngọc T1, sinh ngày 30/5/2008 và Phạm Ngọc K, sinh ngày 19/4/2021. Hiện nay cháu N đã thành niên có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân được, ông B không yêu cầu nên không xem xét. Đối với con tên T1, K ông Biên nhận tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con của ông B, để ổn định cuộc sống của con chung, HĐXX căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao hai con chung cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: ông B không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con, nên bà G không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản: ông Phạm Ngọc B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5]. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phạm Ngọc B phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 24 và 27 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông B; ông Phạm Ngọc B được ly hôn bà Đoàn Thúy G.
- Về con chung: giao con chung tên Phạm Ngọc T1, sinh ngày 30/5/2008 và Phạm Ngọc K, sinh ngày 19/4/2021 cho ông Phạm Ngọc B tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Đoàn Thúy G không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Đoàn Thúy G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Phạm Ngọc B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông B đã nộp tại phiếu thu số 0004888 ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên nên ông B đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hoan |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
