|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07/3/2025 V/v: “Ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Đặng Thị Thới
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hương
Ông Đặng Văn Miện
- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Phú – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 829/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Đức L, sinh năm: 1979.
Địa chỉ: Số G Đ, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Bà Vũ Thị Thùy D, sinh năm: 1983Nguyễn Thành Hộ.
Địa chỉ: Số G Đ, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Ông L và bà D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn ông Trần Đức L trình bày thì:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà D kết hôn với nhau năm 2011, có đăng ký kết hôn tại U, thành phố Đ. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại số G Đ, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thể bàn bạc, trao đổi trong mọi vấn đề dẫn đến cuộc sống chung bế tắc, không hạnh phúc. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Vũ Thị Thùy D.
- Về con chung:
Vợ chồng có 02 con chung tên là Trần Vũ Đông D1, sinh ngày: 13/11/2012 và Trần Vũ Anh D2, sinh ngày 27/12/2018.
Khi ly hôn, ông L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung đến khi thành niên và không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: ông L xác định, vợ chồng không có nợ chung..
Bị đơn bà Vũ Thị Thùy D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Đức Linh D3 kết hôn với nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn tại U, thành phố Đ. Hôn nhân của vợ chồng là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới vợ chồng sống tại số G Đ, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và chuyện tiền bạc. Nay ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì bà đồng ý.
- Về con chung:
Vợ chồng có 02 con chung tên là Trần Vũ Đông D1, sinh ngày: 13/11/2012 và Trần Vũ Anh D2, sinh ngày 27/12/2018.
Do ông L có điều kiện về kinh tế tốt hơn nên khi ly hôn, bà D3 đồng ý giao 02 con chung cho ông L trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung sẽ do vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: bà D3 xác định, vợ chồng không có nợ chung.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn ông Trần Đức L và bị đơn bà Vũ Thị Thùy D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên toà sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên toà đã chấp hành đúng nội quy phiên toà theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của ông Trần Đức L với bà Vũ Thị Thùy D; Giao 02 con chung là Trần Vũ Đông D1, sinh ngày: 13/11/2012 và Trần Vũ Anh D2, sinh ngày 27/12/2018 cho ông Trần Đức L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên; Việc cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn do vợ chồng tự thỏa thuận nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn ông Trần Đức L khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Vũ Thị Thùy D, sinh năm: 1983. Địa chỉ thường trú: Số G Đ, phường D, thành phố Đ.
Qua đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Trần Đức L và bị đơn bà Trần Thị Thùy D4 đều có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Trần Đức L và bà Vũ Thị Thùy D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường U, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 28/11/2012, hôn nhân của vợ chồng đều xuất phát từ sự tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nên hôn nhân giữa ông L và bà D là hợp pháp.
Về mâu thuẫn trong hôn nhân giữa vợ chồng:
Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn trong hôn nhân giữa ông L và bà Dương S do UBND phường U, thành phố Đ chưa từng nhận được đơn yêu cầu hòa giải mâu thuẫn trong hôn nhân giữa vợ chồng ông Trần Đức L và bà Vũ Thị Thùy D nên chính quyền địa phương không thể cung cấp thông tin (BL 26).
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, ông L trình bày thì: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thể bàn bạc, trao đổi trong mọi vấn đề dẫn đến cuộc sống chung bế tắc, không hạnh phúc. Nay ông L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Vũ Thị Thùy D.
Tại bản tự khai ngày 20/12/2024 (BL 15), bà Vũ Thị Thùy D trình bày thì: Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và chuyện tiền bạc và bà D cũng thống nhất ly hôn theo yêu cầu của ông Trần Đức L.
Từ đó có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa ông L và bà D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Trần Đức L với bà Vũ Thị Thùy D được quy định tại Điều 55 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 3 – Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[3.2] Về con chung:
Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Vũ Đông D1, sinh ngày: 13/11/2012 và Trần Vũ Anh D2, sinh ngày 27/12/2018.
Xét nguyện vọng của con chung (BL 17) và ý kiến của ông L, bà D trong quá trình giải quyết vụ việc, vì quyền lợi con chung nên cần thiết giao 02 con chung cho ông Trần Đức L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn do vợ chồng tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: ông L và bà D cùng xác định, vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không xem xét.
[4] Về án phí: Ông Trần Đức L và bà Vũ Thị Thùy D mỗi người phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 213, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1/ Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đức L và bà Vũ Thị Thùy D thuận tình ly hôn.
- Về con chung:
Giao 02 con chung tên Trần Vũ Đông D1, sinh ngày: 13/11/2012 và Trần Vũ Anh D2, sinh ngày: 27/12/2018 cho ông Trần Đức L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên;
Bà Vũ Thị Thùy D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
2/ Về án phí:
- Ông Trần Đức L phải chịu 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001507 ngày 04/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt; hoàn trả cho ông L 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm còn thừa;
- Bà Vũ Thị Thùy D phải chịu 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3/ Quyền kháng cáo: Ông Trần Đức L, bà Vũ Thị Thùy D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Đặng Thị Thới (đã ký và đóng dấu) |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN
