|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày 06/6/2025.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lãnh Văn Việt ;
Ông Nguyễn Tất Bẩy.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm- Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 03 năm 2025về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXX -HNGD ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị La Thị H, sinh năm 1985 “có đơn vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1984 “có đơn vắng mặt”.
Địa chỉ: TDP G, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2025, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị La Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn T kết hôn với nhau năm 2016, trước khi kết hôn chị và anh T có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc nhưng đến khoảng đầu năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, to tiếng, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2019 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Vũ Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Vũ Thiên D, sinh ngày 12/8/2016, hiện cháu đang ở cùng chị. Vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 01/4/2025 bị đơn anh Vũ Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định thời điểm anh và chị H kết hôn, cưới có đăng ký kết hôn như chị H trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong việc làm ăn phát triển kinh tế và nuôi dạy con chung. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị H xin ly hôn anh đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 01 con chung như chị H trình bày là đúng. Vợ chồng ly hôn anh nhất trí để chị H nuôi con chung, anh không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy ý kiến của con chung cháu Vũ Thiên D trình bày nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ La Thị Hoài .
Tại phiên tòa, cả nguyên đơn là chị La Thị H và bị đơn anh Vũ Văn T đều có đơn xin vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị La Thị H và anh Vũ Văn T trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký Toà án thực hiện theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên toà Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đương sự chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật; Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 3; Điều 6; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị La Thị Hoài .
- Quan hệ hôn nhân: Cho chị La Thị H được ly hôn anh Vũ Văn T.
- Về quan hệ con chung: Giao cho chị La Thị H trực tiếp nuôi con chung là Vũ Thiên D, sinh ngày 12/8/2016cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị La Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị La Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Chũ giải quyết ly hôn và con chung với anh Vũ Văn T, anh T1 nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố G, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
[2]Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn là chị La Thị H và bị đơn anh Vũ Văn T đều có đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị La Thị H và anh Vũ Văn T kết hôn tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L ngày 20/9/2016, như vậy xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống cả chị H và anh T đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn và đã ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, không sống chung cùng nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, cho chị La Thị H được ly hôn anh Vũ Văn T.
[4]. Về con chung: Chị La Thị H và anh Vũ Văn T đều xác định vợ chồng có 01 con chung, Sau khi ly hôn chị H và anh T cùng có ý kiến để chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Vũ Thiên D. Xét về điều kiện nuôi con hiện nay, chị H có đủ điều kiện nuôi con, mặt khác nguyện vọng cháu D mong muốn được ở với mẹ (chị H) vì vậy căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình giao chị La Thị H trực tiếp nuôi dưỡng Vũ Thiên D, sinh ngày 12/8/2016 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, anh Vũ Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5]Về tài sản chung, công nợ chung: Chị La Thị H và anh Vũ Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị La Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 mục 1 phần II danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, chị H và anh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 3; Điều 6; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị La Thị H:
- Quan hệ hôn nhân: Cho chị La Thị H được ly hôn anh Vũ Văn T.
- Về con chung: Giao cho chị La Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Vũ Thiên D, sinh ngày 12/8/2016 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, anh Vũ Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị La Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩmnhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003121ngày 10/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chũ. Xác nhận chị H đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Linh |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
