Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG LÔ

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày 06 tháng 6 năm 2025

“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hà Vĩnh

2/ Ông Nguyễn Trần Mạnh Trường

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Sông Lô xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2025/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1992; Nơi cư trú: khu G, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Phú M, sinh năm 1987

Nơi cư trú: thôn Đ, xã Y, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 4 năm 2025, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Phú M vào ngày 07/9/2022, trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi đăng ký kết hôn chị và anh M thuê nhà ở thôn M, xã Y chung sống cùng nhau nhưng chưa tổ chức cưới theo phong tục địa phương vì gia đình anh M không đồng ý cho chị và anh M đến với nhau. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống về lối sống, cách làm kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Mặt khác gia đình anh M thường xuyên đến khu nhà trọ của anh chị để chửi bới, xúc phạm chị từ đó vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, dẫn đến không còn tình cảm. Đến cuối tháng 12/2022, chị về nhà bố mẹ đẻ ở khu G, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không hoà giải hay dàn xếp gì. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh M.

Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Phú M vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, anh M trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống, thời điểm mâu thuẫn như chị G trình bày là đúng; còn nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, mặt khác chị G có nhiều mối quan hệ không rõ ràng nên từ đó vợ chồng thiếu tin tưởng nhau. Đến tháng 12/2022, chị G bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ ở, vợ chồng ly thân nhau từ đó cho đến nay, không dàn xếp gì. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị G xin ly hôn, anh nhất trí ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh không có con chung

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô phát biểu quan điểm về việc tuân thủ các quy định tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị G. Xử cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Nguyễn Phú M.

Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị G phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tạiphiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị G và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án Hôn nhân và gia đình là “Ly hôn”. Bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Phú M có địa chỉ cư trú tại xã Y, huyện S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa chị G, anh M đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị G, anh M.

Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Phú M là cuộc hôn nhân hợp pháp, được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Quá trình vợ chồng chung sống do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không quan tâm đến nhau nên từ đó dẫn đến thường xuyên cãi, chửi nhau và vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nay chị G và anh M đều xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị G xin được ly hôn anh M, anh M cũng đồng ý ly hôn.

Xét mâu thuẫn của vợ chồng chị G và anh M đã trầm trọng, các bên đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, không quan tâm, chăm sóc nhau và làm cho cuộc hôn nhân không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị xin ly hôn của chị G là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[2] Về con chung: chị G và anh M đều xác định vợ chồng không có con chung, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Chị G và anh M không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị G.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Nguyễn Phú M.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001258 ngày 11/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô. Chị G đã nộp đủ án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

- VKSND huyện Sông Lô;

- Chi cục THA dân sự huyện Sông Lô;

- Các đương sự;

- UBND xã Yên Thạch;

- Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Thị Nga

Hội thẩm nhân dân

Hà Vĩnh Nguyễn Trần Mạnh Trường

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giang- Mỹ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger