Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05/06/2025

V/v “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phùng Văn Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình

Ông Mai Văn Du

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Thanh Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/5/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 91/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2025 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ D, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993; Địa chỉ: B C, tổ E phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện, bản trình bày và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Ngọc T kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn ông bà chung sống vui vẻ hạnh phúc nhưng đến thời gian sau thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau và không thể giải quyết được. Nay bà N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Nguyễn Ngọc T.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị N xác định có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 31/01/2019, hiện cháu đang ở với cha và có cuộc sống tốt. Ly hôn, nguyện vọng của bà N là giao con cho ông Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N xác định không có.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc T: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng bị đơn ông Nguyễn Ngọc T vẫn vắng mặt không có lý do và không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Nguyễn Ngọc T.
  • - Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 31/01/2019 cho ông Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định không có; ông T không có ý kiến phản hồi nên không đề cập đến.
  • - Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị N phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Ngọc T. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con”. Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại tổ E, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ có thẩm quyền giải quyết.

[2] Về việc xét xử vắng mặt: Ông Nguyễn Ngọc T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 và 228 BLTTDS, HĐXX xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[3] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Ngọc T kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, theo Giấy đăng ký kết hôn số 36 ngày 20 tháng 3 năm 2019. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau, hiện ông bà đã sống ly thân. Bà N1 về sống ở quận N, ông T sống ở quận C, phần ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị N xác định bà không còn tình cảm với ông T nữa và đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn. Ông Nguyễn Ngọc T mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do và không có văn bản trình bày đối với yêu cầu ly hôn của bà N. Điều này chứng tỏ ông T không có nguyện vọng cứu vãn cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng. Căn cứ kết quả xác minh tại địa phương thể hiện không rõ ông bà có mâu thuẫn gì hay không, tuy nhiên bà Nguyễn Thị N đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn Ngọc T.

[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị N xác định có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 31/01/2019. Ly hôn, bà N có nguyện vọng giao con cho ông Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà N hiện đang ở trọ và đi làm ca không có điều kiện chăm sóc con cái, cháu T1 đang sinh sống với ông T và ông T không có ý kiến phản đối về việc bà N giao con cho ông nuôi nên HĐXX có căn cứ để chấp nhận giao con chung Nguyễn Ngọc Minh T1 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí Hôn nhân gia đình: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.

[7] Xét thấy ý kiến của đại diện VKSND quận Cẩm Lệ tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” đối với ông Nguyễn Ngọc T.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 31/01/2019 cho ông Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, bà Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng nuôi con.

  4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị N phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009431 ngày 02/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, bà N đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng;
  • - CCTHADS quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng;
  • - UBND phường Khuê Trung (Giấy CNKH số 36/2019)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phùng Văn Nhớ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger