Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05/02/2025

V/v tranh chấp hôn nhân

và gia đình.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương

Bà Mai Thị Viện

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1994
  • CCCD số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/8/2021.
  • Nơi cư trú: Số D, đoạn A, đường S, Quận D, Thành phố Đ, Đài Loan. Vắng.
  • Người được chị Q uỷ quyền giao nộp, nhận văn bản:
  • Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;
  • Ông Trương Tấn D, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ A P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng.
  • - Bị đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm 1991;
  • Địa chỉ: SN E, ngõ B đường H, thôn T, xã H, huyện H, Thanh Hóa. Vắng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Về hôn nhân:

Tôi và anh Lê Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 60 ngày 16/11/2015. Thời gian đầu sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống hạnh phúc, gần đây phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng quan điểm trong hôn nhân. Nguyên nhân chủ yếu do khác biệt về tính cách không thể hoà hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Chúng tôi và hai bên gia đình đã cố gắng tạo điều kiện để vợ chồng thay đổi nhưng không có kết quả. Hiện tôi đang công tác, làm việc tại Đài Loan, chồng tôi đang sinh sống ở Việt Nam, do có nhiều mâu thuẫn từ trước và giờ phải sống xa nhau dẫn đến mâu thuẫn vốn dĩ đã không tốt nay càng thêm trầm trọng. Do vậy, tôi làm đơn yêu cầu ly hôn, đề nghị Toà xem xét, giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng là anh Lê Văn L.

Về con chung:

Vợ chồng tôi có 01 con chung là cháu: Lê Bảo N, sinh ngày 24/12/2016, giới tính nữ. Khi ly hôn, tôi có nguyện vọng giao con chung cho anh Lê Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con:

Tôi tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu Việt Nam đồng). Nếu anh L không nhất trí với mức cấp dưỡng nêu trên, chị đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Về tài sản và công nợ chung:

Chúng tôi không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

2. Tại Bản tự khai ngày 20/10/2024, bị đơn là anh Lê Văn L trình bày:

Tôi và cô Nguyễn Thị Q kết hôn với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H. Sau khi kết hôn chúng tôi sinh được 01 con chung là cháu Lê Bảo N năm 2016. Quá trình sinh sống vợ chồng tôi không có mâu thuẫn gì, hiện vợ tôi đang làm việc tại Đài Loan. Nay cô Q làm đơn xin ly hôn tôi không đồng ý ly hôn, tôi mong cô Q quay lại để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con cái.

3. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/01/2025, ông Lê Văn Đ, sinh năm 1968 là bố đẻ của anh Lê Văn L trình bày:

Hiện nay anh L và con chung của anh L, chị Q đang sống cùng tôi và vợ tôi là Lê Thị C, tôi biết chị Q đang xin ly hôn anh L. Chị Q đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ khoảng năm 2022 đến nay, từ khi đi chưa về nhà lần nào. Chị Q và anh L đã trục trặc, mâu thuẫn với nhau từ khoảng hơn 01 năm nay, gia đình tôi có biết việc anh chị trục trặc nhưng chị Q không liên lạc với chúng tôi, còn anh L không nói cụ thể nên tôi không biết mâu thuẫn là gì, chỉ biết anh chị đang trục trặc (mâu thuẫn). Việc ly hôn hay không ly hôn là quyền của anh L, chị Q, chúng tôi không có ý kiến gì.

Sau khi anh L, chị Q kết hôn thì anh chị về chung sống với vợ chồng chúng tôi, năm 2016 sinh được cháu Bảo N. Từ khi chị Q đi Đài Loan, anh L và cháu Bảo N vẫn ở với vợ chồng tôi. Hiện nay cháu Bảo N đang học lớp 3, nếu anh L, chị Q ly hôn, mẹ cháu đang ở Đài Loan nên đề nghị cho cháu Bảo N được ở với anh L và gia đình tôi, chúng tôi đảm bảo được nơi ở, sinh hoạt cho cháu Bảo N và anh L.

Cháu Bảo N đi học ở trường và học thêm liên tục nên không có ở nhà và không đến Toà án để trình bày lời khai được.

Sau khi sinh cháu Bảo N, anh L đã sang Đài Loan trước, năm 2022 chị L sang Đài Loan với anh L, nhưng anh chị trục trặc từ bên Đài Loan, năm 2022 anh L về nước, chị Q tiếp tục ở lại Đài Loan. Anh chị mâu thuẫn từ bên Đài Loan cho đến nay. Đề nghị Toà án giải quyết việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

4. Tại phiên tòa sơ thẩm,

  • - Chị Nguyễn Thị Q có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lê Văn L được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại phiên tòa.
  • - Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:
  • Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 207 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q, cho chị Q được ly hôn anh Lê Văn L. Về con chung: Giao cho anh Lê Văn L trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 01 con chung của anh chị sau khi ly hôn; ghi nhận sự tự nguyện của chị Q, cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Về tài sản và công nợ chung: Chị Q không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • - Về thẩm quyền: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q hiện đang sinh sống tại Đài Loan, các tài liệu chị Q gửi đến Toà án có chứng thực của Văn phòng K tại Đ; bị đơn Lê Văn L hiện đang cư trú tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về sự có mặt của đương sự tại phiên toà: Chị Q có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Xét nội dung khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q:

[2.1]. Về hôn nhân: Chị Q và anh Lê Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 60 ngày 16/11/2015, là hôn nhân hợp pháp.

Chị Q trình bày vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong hôn nhân, sống ly thân nhau, tình cảm không còn nên xin được ly hôn.

Anh L mong muốn vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con cái. Gia đình anh L cho biết anh chị đã phát sinh mâu thuẫn từ khi anh L chị Q đang sinh sống cùng nhau tại Đài Loan (năm 2022) cho đến nay.

Xét thấy, giữa anh L và chị Q đã phát sinh mâu thuẫn từ khi anh chị đang sinh sống cùng nhau tại Đài Loan, sau khi anh L về Việt Nam, vợ chồng sống xa nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Quá trình Toà án giải quyết việc ly hôn, anh L mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái, nhưng mặc dù biết chị Q xin ly hôn, anh không có giải pháp khắc phục mâu thuẫn, cải thiện tình cảm vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Q, cho chị Q ly hôn anh Lê Văn L.

Về con chung: Anh L, chị Q có 01 con chung là cháo Lê Bảo N, sinh ngày 24/12/2016, hiện nay cháu Bảo N đang sống cùng anh L.

Chị Q có nguyện vọng giao cháu Bảo N cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, chị Q đang sinh sống tại Đài Loan không thể trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, hiện tại cháu Bảo N đang sinh sống, học tập ổn định cùng với anh L, gia đình anh L cũng có nguyện vọng để cháu Bảo N cho anh L nuôi dưỡng vì mẹ cháu đang làm ăn xa. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cho con chung sau khi bố mẹ ly hôn, giao cháu Lê Bảo N cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L 3.000.000đ/tháng; anh L mong muốn đoàn tụ nên không có ý kiến gì về phần con chung.

Xét thấy, mức cấp dưỡng chị Q tự nguyện đóng góp để nuôi con chung với anh L tại thời điểm giải quyết vụ án là tương đối phù hợp với chi phí nuôi con chung của anh chị tại nơi cháu Bảo N đang sinh sống. Vì vậy, chấp nhận sự tự nguyện của chị Q, chị Q cấp dưỡng nuôi con chung với anh L mỗi tháng 3.000.000đ, kể từ tháng 02/2025 đến khi cháu Bảo N đủ 18 tuổi.

Quá trình nuôi dưỡng con chung chưa thành niên, để bảo đảm cuộc sống, sinh hoạt, học tập cho con chung, nếu thấy cần thiết anh L có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[2.3]. Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q.
    • - Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Q ly hôn anh Lê Văn L.
    • - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Bảo N, sinh ngày 24/12/2016. Giao con chung cho anh Lê Văn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.
    • Chị Nguyễn Thị Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh Lê Văn L mỗi tháng 3.000.000₫ (Ba triệu Việt Nam đồng), và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
    • - Về tài sản và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con; tổng cộng 600.000đ. Được trừ 300.000₫ tạm ứng án phí chị đã nộp tại Biên lai thu số: 0000433 ngày 18/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị Nguyễn Thị Q còn phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • Chị Nguyễn Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày người đại diện theo uỷ quyền của chị nhận được bản án.
    • Anh Lê Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - P9 -VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoằng Thịnh, huyện Hoằng Hoá;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; Tòa HNGĐ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger