|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 02-6-2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đời
2. Ông Hà Đồng Tịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương - Thư ký Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 16/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 62/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1980
- Bị đơn: Ông Phạm Văn N, sinh năm: 1980.
Địa chỉ: A T, tổ C, T, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt tại phiên toà)
Địa chỉ: A T, tổ C, T, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 10 tháng 02 năm 2025 và quá trình tố tụng tại tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn N kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45, quyển số 01 ngày 04 tháng 5 năm 2004, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại A T, tổ C, T, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà T trình bày là do ông Phạm Văn N không có trách nhiệm với gia đình, và đã ngoại tình một cách công khai một thời gian rất dài, vì vậy bà và ông N đã sống ly thân.
Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Văn N.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị T xác nhận vợ chồng bà có 02 con chung là Phạm Gia H, sinh ngày: 04/11/2004 và Phạm Gia B, sinh ngày: 29/03/2011. Nguyện vọng của bà T sau khi ly hôn: Đối với con Phạm Gia H đã đủ tuổi trưởng thành và sinh hoạt bình thường nên bà không có yêu cầu gì. Bà yêu cầu được nuôi con Phạm Gia B, không yêu cầu ông Phạm Văn N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác nhận vợ chồng bà không có.
* Đối với bị đơn ông Phạm Văn N: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà cho ông Phạm Văn N nhưng ông Phạm Văn N cố tình vắng mặt không đến toà làm việc mà không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T nên không có bản tự khai cũng như không thể tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải được, không có lời trình bày tại phiên toà hôm nay.
* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tại phiên toà:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật.
Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
- + Đề nghị HĐXX căn cứ các điều 51,56,81,83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, xử cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Phạm Văn N.
- + Về con chung: Bà Nguyễn Thị T xác nhận vợ chồng bà có 02 con chung là Phạm Gia H, sinh ngày: 04/11/2004 và Phạm Gia B, sinh ngày: 29/03/2011. Đối với con Phạm Gia H đã đủ tuổi trưởng thành và sinh hoạt bình thường nên bà không có yêu cầu gì. Giao con Phạm Gia B, sinh ngày: 29/03/2011 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu ông Phạm Văn N cấp dưỡng.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác nhận vợ chồng bà không có
- + Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa; Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Bị đơn ông Phạm Văn N có địa chỉ nơi cư trú tại số A T, tổ C, T, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng nên Tòa án nhân dân quận Sơn Trà thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn ông Phạm Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX xét xử vắng mặt ông Phạm Văn N.
Về nội dung tranh chấp:
[3]Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Văn N được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện vào 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45, quyển số 01 ngày 04 tháng 5 năm 2004. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khai rằng:
Bà không còn tình cảm, không còn thương yêu gì đối với ông Phạm Văn N vì tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông Phạm Văn N đã ngoại tình, không ai quan tâm đến ai, tình thực tế vợ chồng đã sống ly thân, hai bên gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Văn N
Đối với bị đơn ông Phạm Văn N đã nhận được các văn bản tố tụng hợp lệ của tòa án nhưng ông không đến toà để hòa giải. Điều này chứng tỏ ông không muốn hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình.
Căn cứ biên bản xác minh ngày 17 tháng 4 năm 2025 đã được chính quyền địa phương xác nhận có nội dung: “Trong quá trình ông N và bà T cư trú sinh sống tại địa phương thì có xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng ông N bà T như nào thì tổ dân phố không rõ...”
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa bà T và ông N không đạt được mục đích này. Mâu thuẫn giữa bà T và ông N đã đến mức trầm trọng, thực tế bà T và ông N đã không chung sống cùng nhau, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn làm cho cuộc hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn không còn nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, 56 luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, xử cho bà T được ly hôn ông N là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Bà T xác nhận vợ chồng có 02 con chung là: Phạm Gia H, sinh ngày: 04/11/2004 và Phạm Gia B, sinh ngày: 29/03/2011. Sau ly hôn, bà T có nguyện vọng: Đối với con Phạm Gia H đã đủ tuổi trưởng thành và sinh hoạt bình thường nên bà không có yêu cầu gì. Bà yêu cầu được nuôi con Phạm Gia B, sinh ngày: 29/03/2011, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Xét việc nuôi con của bà T thì thấy: Việc nuôi dạy con là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ, hiện tại 02 con đang sinh sống với mẹ, đối với con Phạm Gia H đã đủ tuổi trưởng thành và sinh hoạt bình thường nên bà không có yêu cầu gì nên HĐXX không đề cập đến. Bà T có nguyên vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con Phạm Gia B, để không làm xáo trộn cuộc sống của con, mẹ hiện có thu nhập để nuôi con và nguyện vọng của con cũng muốn sống với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn. Vì vậy, căn cứ vào các điều 81,82,83 luật HNGĐ năm 2014 xử giao con Phạm Gia B, sinh ngày: 29/03/2011 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đề cập đến.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác nhận vợ chồng bà không có sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[3] Về án phí HNGĐ sơ thẩm : Bà T phải chịu 300.000 đồng
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết . Xử cho bà T được ly hôn ông N và giao Phạm Gia B, sinh ngày: 29/03/2011 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. HĐXX xét thấy đề nghị Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của đại diện VKS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ban hành ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Phạm Văn N về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Phạm Văn N. Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyễn Thị T được ly hôn ông Phạm Văn N nên Giấy chứng nhận kết hôn số 45, quyển số 01 do UBND phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04 tháng 5 năm 2004 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao con chung Phạm Gia B, sinh ngày: 29/03/2011 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi);
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác nhận giữa bà và ông N không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Nguyễn Thị T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003246 ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nên HĐXX không đề cập đến.
Bên không nuôi con được quyền đi lại, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Đối với con Phạm Gia H, sinh ngày: 04/11/2004 đã đủ tuổi trưởng thành và sinh hoạt bình thường, bà T không có yêu cầu gì nên HĐXX không đề cập đến.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T xin được ly hôn ông Phạm Văn Nh
