|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 01-4-2025
V/v ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thúy Huỳnh và ông Trịnh Minh Phương
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nam Đừng;
Ông Thạch Phới.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quốc Hi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 247/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Trịnh Minh P, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp Đ, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 5 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Bà và ông Trịnh Minh P chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 20/8/2008. Quá trình chung sống có 02 con chung tên Trịnh Quốc L, sinh ngày 19/9/2007 và Trịnh Khả H1, sinh ngày 23/5/2012 hiện do ông Trịnh Minh P trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn tới ly hôn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, hay cự cải, chung sống không hạnh phúc. Bà và ông Trịnh Minh P không còn chung sống với nhau từ tháng 03/2023 đến nay. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết
Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Trịnh Minh P.
Về con chung: Bà đồng ý giao con chung tên Trịnh Quốc L, sinh ngày 19/9/2007 và Trịnh Khả H1, sinh ngày 23/5/2012 cho ông Trịnh Minh P nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vắng mặt bà.
Ông Trịnh Minh P là bị đơn vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt và có lời khai như sau: Ông và bà Huỳnh C sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 20/8/2008. Quá trình chung sống có 02 con chung tên Trịnh Quốc L, sinh ngày 19/9/2007 và Trịnh Khả H1, sinh ngày 23/5/2012 hiện do ông đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn tới ly hôn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, hay cự cải, chung sống không hạnh phúc nên bà H đã bỏ đi, ông và bà H đã không còn chung sống với nhau từ tháng 3/2023 cho đến nay, nay ông cũng thống nhất đồng ý ly hôn với bà H; Về con chung: ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung là Trịnh Quốc L, sinh ngày 19/9/2007 và Trịnh Khả H1, sinh ngày 23/5/2012 và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi hai con; Về tài sản chung và nợ chung thì ông không có tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bận công việc nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông.
Em Trịnh Quốc L và Trịnh Khả H1 là con chung của bà H và ông P, hiện hai em đang sống chung với ông P, hai em đều có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với cha là ông Trịnh Minh P. Do hai em bận đi học nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Căn cứ trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, xử:
Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy Huỳnh . Cho bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Trịnh Minh P.
Về con chung: Giao cho ông Trịnh Minh P được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung tên Trịnh Quốc L, sinh ngày 19/9/2007 và Trịnh Khả H1, sinh ngày 23/5/2012. Đây cũng phù hợp với nguyện vọng của hai cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: do ông Trịnh Minh P không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi hai con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trịnh Minh P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trịnh Minh P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: buộc bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Thúy H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trịnh Minh P. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Trịnh Minh P hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Trịnh Minh P vẫn vắng mặt và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời bà H cũng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trịnh Minh P.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trịnh Minh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn của bà H và ông P là bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, chung sống với nhau không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên đã ly thân nhau từ tháng 3/2023 cho đến nay, xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông P là có thật, hai người không tự giải quyết được với nhau và hai người đã không còn liên lạc, không còn chung sống với nhau gần 03 năm nay, đủ để chứng minh cuộc sống vợ chồng đã xảy ra trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cho nên bà H yêu cầu ly hôn, ông P cũng có lời khai thống nhất đồng ý ly hôn với bà H. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy Huỳnh X cho bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Trịnh Minh P là phù hợp có căn cứ đúng quy định pháp luật.
[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trịnh Minh P có hai người con chung tên Trịnh Quốc L, sinh ngày 19/9/2007 và Trịnh Khả H1, sinh ngày 23/5/2012, từ khi ông bà không còn chung sống với nhau, hai con chung do ông P trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, bà H đồng ý giao hai con chung cho ông P tiếp tục nuôi dưỡng; ông P cũng yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung và ông không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi hai con, đồng thời đây cũng là nguyện vọng của Trịnh Quốc L và Trịnh Khả H1. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi bà H và ông P không còn chung sống với nhau Trịnh Quốc L và Trịnh Khả H1 được ông P nuôi dạy tốt, không bị ngược đãi, đánh đập gì. Hội đồng xét xử nghĩ nên ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Giao Trịnh Quốc L, sinh ngày 19/9/2007 và Trịnh Khả H1, sinh ngày 23/5/2012 cho ông Trịnh Minh P tiếp tục nuôi dưỡng, bà H không trực tiếp nuôi con có quyền được tới lui thăm nom con chung, không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P đã được Tòa án giải thích các quy định của pháp luật về người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng ông P cho rằng ông có đủ khả năng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung nên ông không có yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi hai con nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật;
[8] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của vị kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; 147, 227, 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy Huỳnh . Bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Trịnh Minh P.
Về con chung: Giao hai con chung tên Trịnh Quốc L, sinh ngày 19/9/2007 và Trịnh Khả H1, sinh ngày 23/5/2012 cho ông Trịnh Minh P nuôi dưỡng. Đây cũng phù hợp với nguyện vọng của Trịnh Quốc L và Trịnh Khả H1.
Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Thúy H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ông Trịnh Minh P trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Nguyễn Thị Thúy H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trịnh Minh P không yêu cầu bà Nguyễn Thị Thúy H phải cấp dưỡng nuôi con chung tên Trịnh Quốc L, sinh ngày 19/9/2007 và Trịnh Khả H1, sinh ngày 23/5/2012 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các đương sự không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008720 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè. Bà Nguyễn Thị Thúy H đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Trịnh Minh P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Trúc Linh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Dương Thị Trúc Linh |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
