TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 25/6/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Giang
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Ông Bùi Thế Hưng.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm, thụ lý số 07/2025/TLPT-HNGĐ ngày 22/4/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐ-PT ngày 10/6/2025, giữa:
- - Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1981.
- - Bị đơn: Chị Lương Thị T1, sinh năm 1987.
Đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại số B Q, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Đều trú tại số F Đ, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Lê Văn T: Bà Trịnh Thị L. Địa chỉ 63 ngõ B K, phường K, quận T, TP Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Lê Văn T: Ông Nguyễn Ngọc T2. Địa chỉ A đường N, phường C, TP H, tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
Người kháng cáo: Anh Lê Văn T – bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 15 /2025/HNGĐ-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung tóm tắt như như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Lương Thị T1 được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 24/10/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Mặc dù vợ chồng chung sống cùng nhà nhưng không quan tâm đến nhau. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh T xin ly hôn với chị T1.
Về con chung: Anh T và chị T1 có 02 con chung là Lê Minh T3, sinh ngày 20/3/2016 và Lê Thùy C, sinh ngày 18/12/2019. Anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung. Trong trường hợp không được nuôi cả hai con anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Lê Thùy C, tự nguyện không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng cho con. Hiện anh đang làm nhân viên tín dụng tại Ngân hàng phát triển thành phố H tại Hải Dương, thu nhập khoảng 14.000.000₫ - 15.000.000đ/tháng. Sau ly hôn, anh có kế hoạch chuyển về sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình nên có sự hỗ trợ của bố mẹ trong việc chăm sóc các con và sẽ tìm kiếm công việc khác.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho hai bên gia đình: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - chị Lương Thị T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T1 nhất trí với phần trình bày của anh T về điều kiện, thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống. Mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm về mọi mặt, không cảm thông, chia sẻ được với nhau. Nay, vợ chồng đã không còn tình cảm nên anh T xin ly hôn, chị T1 đồng ý.
Về con chung: Chị nhất trí về các con chung như anh T trình bày. Sau ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Hiện nay, chị T1 là Phó giám đốc Phòng G tại Ngân hàng N - chi nhánh huyện T, mức thu nhập khoảng 17.000.000₫ - 20.000.000đ/tháng. Chị là người chăm sóc, chi phí trong sinh hoạt và học tập chính cho hai con. Bên cạnh đó, chị được bố mẹ hỗ trợ chăm sóc các con trong thời gian đi làm. Hiện cháu T3
đang học lớp 3 trường tiểu học T4, cháu C học tại trường mầm non Q đều thuộc thành phố H. Lý do chị muốn nuôi cả hai con bởi các cháu đều là con gái cần sự chăm sóc, hướng dẫn của người mẹ. Về chỗ ở, chị có nhà đất đứng tên riêng tại số F Đ, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Anh T hiện chưa có chỗ ở ổn định hoặc sẽ chuyển về Thái Bình sinh sống như vậy các con sẽ bị chia tách nếu giao cho mỗi người nuôi một con. Quan điểm trình bày nguyện vọng của cháu Lê Minh T3 xin được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình hai bên: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 15/2025/HNGĐ- ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn T được ly hôn với chị Lương Thị T1.
2. Về con chung: Giao cho chị Lương Thị T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Lê Minh T3, sinh ngày 20/3/2016 và Lê Thùy C, sinh ngày 18/12/2019. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Lương Thị T1 không yêu cầu anh Lê Văn T cấp dưỡng cho con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm anh T có đơn kháng cáo về phần con chung. Cụ thể anh T1 đề nghị xin được chăm sóc, nuôi dưỡng con cháu là cháu Lê Thùy C, sinh ngày 18/12/2019; giao chị Lương Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Minh T3, sinh ngày 20/3/2016. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Tại phiên tòa, anh T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Chị T1 có quan điểm không chấp nhận kháng cáo của anh T1, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người được ủy quyền của anh T trình bày: Anh T hiện sắp có Quyết định vào làm việc tại Ngân hàng, gia đình anh T còn bố mẹ có nhiều thời gian cùng anh T chăm sóc con, mặt khác bố mẹ anh T còn cho khoản tiền 400.000.000đ để chăm sóc cháu C tốt hơn. Vì vậy xác định anh T có
đủ điều kiện để chăm sóc con, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử cho anh T được nuôi con Lê Thùy C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa cho thấy cả anh T và chị T1 đều có đủ điều kiện nuôi con, nguyện vọng nuôi con của anh chị là chính đáng. Tuy nhiên xét thấy cháu C hiện còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ hơn. Cháu T3 đã lớn và có nguyện vọng ở với mẹ. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cháu C và cháu T3 cho chị T1 nuôi dưỡng là phù hợp. Từ phân tích trên cho thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh T. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
[2] Xét kháng cáo của anh Lê Văn T, Hội đồng xét xử thấy: Nguyện vọng xin được nuôi con của anh T và chị T1 đều chính đáng, thể hiện trách nhiệm của anh chị đối với con chung. Tuy nhiên khi xem xét giao con cho ai nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử cần phải xem xét, đánh giá một cách toàn diện về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung để đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con.
Căn cứ lời khai của các đương sự, căn cứ kết quả xác minh cho thấy anh T và chị T1 hiện đều có công việc và có thu nhập ổn định. Nếu anh chị được giao nuôi con thì đều được gia đình hỗ trợ trong việc chăm sóc nuôi dưỡng các con. Chị T1 có nhà đất riêng. Anh T mặc dù ở với bố mẹ nhưng bố mẹ anh T cũng có quan điểm sẽ tạo điều kiện tốt nhất về chỗ ở và hỗ trợ anh T trong việc chăm sóc cháu C cả về vật chất lẫn tinh thần. Như vậy, có thể nói cả anh T và chị T1 đều đủ điều kiện nuôi
dưỡng con chung. Tuy nhiên, xét thấy cháu C hiện còn nhỏ nên nếu giao cháu C cho chị T1 nuôi dưỡng thì việc chăm sóc con sẽ tốt hơn, cháu C tuổi còn nhỏ, cần sự ổn định, tránh xáo trộn môi trường sống, giáo dục của cháu. Đồng thời, cháu Lê Minh T3 có nguyện vọng được ở với mẹ; Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã giao Cháu C và cháu T3 cho chị T1 nuôi dưỡng là phù hợp.
Từ phân tích trên cho thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T.
[3] Về án phí phúc thẩm: Anh Lê Văn T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 15/2025/HNGĐ- ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương về phần quan hệ con chung như sau:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 229, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về con chung: Giao cho chị Lương Thị T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Lê Minh T3, sinh ngày 20/3/2016 và Lê Thùy C, sinh ngày 18/12/2019. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Lương Thị T1 không yêu cầu anh Lê Văn T cấp dưỡng cho con.
Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
2. Về án phí phúc thẩm: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm, nhưng được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương theo biên lai thu 0001229 ngày 19/3/2025. Anh T đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thanh Giang |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-PT ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Văn T xin ly hôn chị Lương Thị Th
