Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số 18/2025/DSST

Ngày 05 tháng 6 năm 2025

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Chử

Ông Trịnh Đình Động

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Minh Khôi - Thư ký Tòa án

- Đại diện VKSND huyện Ân Thi tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn T - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 44/2024/TLST-DS ngày 10/12/2024 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-DS ngày 10/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-DS ngày 09/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L SN 1978

Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T1 SN 1977 - Công ty L1 – Đoàn luật sư tỉnh Thái Bình

Địa chỉ: Số D đường L, Tổ I P. K, TP T, Thái Bình

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q SN 1966

Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T2 SN 1963
  2. Ông Nguyễn Văn T3 SN 1968
  3. Ông Nguyễn Văn P SN 1971
  4. Nguyễn Thị P1 SN 1974
  5. Phạm Thị C SN 1979

Đều trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên

Các đương sự đều có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L trong qúa trình tố tụng thể hiện: Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Thị T5 sinh được 06 người con gồm: ông T2, ông Q, ông T3, ông P, bà P1 và ông. Ngoài ra các cụ không có con nuôi hay con riêng nào khác. Cụ T4 chết 1996 không để lại di chúc. Khi còn sống cụ T4 cũng chưa phân chia đất cho con nào. Cụ T5 chết năm 2023, sau khi cụ T5 chết thì gia đình tìm trong tủ mới biết có tờ giấy viết tay của cụ để lại đất ở, đất ruộng cho ông, ông cũng không biết cụ T5 viết giấy này khi nào. Cụ T4 và cụ T5 có tài sản chung là thửa đất ở có diện tích 320m² và 1.322m² đất nông nghiệp tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, trước đây trên đất có ngôi nhà cấp 4 do cụ T4 và cụ T5 xây, nhưng sau này ngôi nhà bị cũ hỏng nên năm 2015 cụ T5 đồng ý phá dỡ ngôi nhà cũ đi để cho ông xây nhà mới. Trên đất hiện nay có 02 ngôi nhà, một ngôi nhà do ông xây và một ngôi nhà do ông T3 xây năm 2022. Về phần ruộng canh tác, do trước đây cụ T5 sống cùng với với ông nên phần ruộng của hai cụ do vợ chồng ông quản lý sử dụng. Năm 2013 -2014 tiến hành dồn thửa đổi ruộng thì suất ruộng của hai cụ chia chung với ruộng của nhà ông, hiện nay nhà ông đang sử dụng 05 suất ruộng bao gồm: 02 suất của cụ T5, cụ T4, 02 suất của vợ chồng ông và 01 suất của bà P1, mỗi định suất được giao 661m². Năm 2023, do các anh chị em trong gia đình không thống nhất được với nhau về việc phân chia di sản của bố mẹ để lại nên xảy ra tranh chấp, ông mới làm đơn khởi kiện đến Tòa án đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Nguyễn Thị T5 theo quy định của pháp luật. Ông xin được nhận hiện vật và trả các anh chị em phần thừa kế được hưởng bằng tiền.

Ngày 03/4/2025, ông Nguyễn Văn T6 là người đại diện theo ủy quyền của ông L yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ T4 và cụ T5 theo di chúc của cụ T5 và theo quy định của pháp luật.

Lời khai của bị đơn là ông Q: Cụ T4 chết 1996 không để lại di chúc, còn cụ T5 chết năm 2023 có để lại di chúc nhưng không có công chứng, chứng thực và không có ai làm chứng. Bản di chúc do ông L cung cấp cho Tòa án không phải bản di chúc do cụ T5 để lại. Ông không biết biết bản di chúc do cụ T5 để lại hiện nay do ai đang cầm giữ. Khi còn sống bố mẹ ông chỉ có 01 thửa đất ở diện tích khoảng 320m² ở thôn Đ, xã H, huyện Â. Trên đất có nhà ngôi nhà cấp 4 do các cụ xây, sau này ông L đã phá đi để xây nhà mới. Mảnh đất vẫn nguyên trạng như hiện nay, không ai có công sức gì, trước đây hai cụ còn sống vẫn chưa phân chia đất đai cho con cháu nào. Sau khi cụ T5 chết thì đất đai do vợ chồng ông T3, ông L quản lý, sử dụng. Trên đất có 02 ngôi nhà do vợ chồng ông L, ông T3 xây. Ngoài ra cụ T4, cụ T5 còn có 3,6 sào đất nông nghiệp, mỗi người 1,8 sào do ông L đang quản lý và sử dụng. Nay ông L đề nghị Tòa chia thừa kế phần đất ở và đất ở nông nghiệp của cụ T4 và cụ T5 để lại, ông nhất trí đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật. Ông không yêu cầu, đề nghị gì về phần công sức.

Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Ông T2, ông T3, ông P, bà P1: Cụ T4 chết 1996 không để lại di chúc, còn cụ T5 chết năm 2023 có để lại di chúc nhưng không có công chứng, chứng thực và không có ai làm chứng nên ông, bà không chấp nhận. Bản di chúc do ông L cung cấp cho Tòa án không phải bản di chúc do cụ T5 để lại. Các ông, bà cũng không biết bản di chúc do cụ T5 để lại hiện nay do ai đang cầm giữ. Khi còn sống cụ T4 và cụ T5 có mảnh đất ở diện tích khoảng 320m2 ở thôn Đ, xã H, huyện Â. Trên đất có nhà ngôi nhà cấp 4 do các cụ xây dựng, sau này ông L đã phá đi để xây nhà mới. Sau khi cụ T5 chết, đất đai do vợ chồng ông T3, ông L quản lý, sử dụng. Trên đất có 02 ngôi nhà do vợ chồng ông L, ông T3 xây. Ngoài ra cụ T5, cụ T4 còn có mỗi người 1,8 sào ruộng canh tác hiện nay do ông L quản lý và sử dụng. Nay ông L đề nghị Tòa chia thừa kế phần đất ở và đất ở nông nghiệp của cụ T4 và cụ T5 để lại, các ông, bà nhất trí đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật. Đối với di sản thừa kế là đất ở, kỷ phần thừa kế của ông Tại bà P1 được hưởng, ông bà không nhận mà nhường lại cho ông T3 và ông L mỗi người một nửa, phần thừa kế của ông T3 và ông P các ông sẽ nhận để sử dụng. Đối với di sản là đất nông nghiệp của cụ T4 và cụ T5, kỷ phần thừa kế các công bà được hưởng, các ông bà sẽ nhận.

- Bà Nguyễn Thị C1: Bà kết hôn với ông L năm 1999, các anh chị em khác của ông L khi trưởng thành đều đi xây dựng gia đình đều được cụ T4, cụ T5 mua đất làm nhà sống ở chỗ khác, chỉ còn vợ chồng bà là con út sống cùng cha mẹ. Năm 2011 cụ T5 muốn định đoạt tài sản chung của hai cụ, tuy nhiên do nhận thức pháp luật hạn chế nên ngày 25/03/2011 cụ T5 đã làm đơn đề nghị UBND xã H xác nhận cụ là chủ sở hữu, cụ T5 có tuyên bố cho vợ chồng bà toàn bộ thửa đất ở và ruộng canh tác của các cụ ở ngoài đồng. Riêng đất ở cụ T5 có di chúc để lại mảnh đất cho vợ chồng bà. Vợ chồng ông bà không có công sức tôn tạo vượt lấp gì, đất vẫn nguyên trạng như hiện nay. Bà không yêu cầu, đề nghị gì về phần công sức

- Bà Nguyễn Thị X: Khi bà về làm dâu, vợ chồng bà sống cùng các cụ trên đất, khoảng năm 1994 thì vợ chồng bà ra chỗ đất khác ở mãi đến năm 2022 thì ông T3 lại về đất của các cụ xây nhà ở trên đất. Hiện nay trên đất có hai ngôi nhà, một ngôi nhà do ông T3 xây và một ngôi nhà của vợ chồng ông L. Năm 2021, khi đó cụ T5 vẫn còn sống, tôi nghe nói cụ có tuyên bố cho ông T3 một phần đất để xây nhà, việc cho đất cụ có làm giấy tờ hay không tôi không biết, các anh chị em trong nhà đều biết việc cụ T5 cho ông T3 đất, khi ông T3 xây nhà thì cũng không ai có ý kiến gì. Còn việc cụ T5 di chúc để lại đất cho ông L như thế nào bà không biết. Bà không có công sức tôn tạo vượt lấp gì, đất vẫn nguyên trạng như hiện nay. Bà và ông T3 sống ly thân nhau từ năm 2021, bà sống ở nhà ngoại. Việc đất cát là của gia đình nhà chồng, bà không liên quan gì do vậy bà từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án.

- Xác minh với chính quyền địa phương:

  1. Nguồn gốc đất thổ cư: Theo tờ bản đồ số 8 năm 1986 thì mảnh đất liền thổ thuộc thửa số 40 có diện tích 488m² và đất ao thuộc thửa số 41 có diện tích 160m². Tờ bản đồ số 07 năm 1990, thì mảnh đất liền thổ thuộc thửa số 40 có diện tích 320m² và đất ao thuộc thửa số 41 có diện tích 160m². Tờ bản đồ số 14 năm 1998 đất thuộc thửa số 84 có diện tích 399,5m². Tờ bản đồ số 17 năm 2016 thì mảnh đất thuộc thửa số 102 có diện tích 514m² chủ sử dụng đất đều là Nguyễn Văn T4.
  2. Đất nông nghiệp: Năm 2013 – 2015 dồn thửa đổi ruộng theo quy định mỗi định suất được giao 661m², 02 suất ruộng của cụ T4, cụ T5 có diện tích 1.322m², trong đó ruộng phần trăm của cụ T4, cụ T5 04 miếng (144m²) đã trừ vào đất vườn trong nhà, số ruộng còn lại của hai cụ có diện tích 1.178m² được chia chung với ruộng của ông L, bà C1, bà P1 tại 02 xứ đồng: xứ đồng Đớ thửa 2 tờ bản đồ 11 có diện tích 1.625m², xứ đồng Giềng thửa số 99, tờ bản đồ số 11 có diện tích 1.220m² đứng tên Nguyễn Thị T5.

Quan điểm của chính quyền địa phương: Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Việc xem xét, thẩm định và định giá tài sản

  1. Đất thổ cư: Số thửa 102, tờ bản đồ 17 năm 2017 có diện tích 514,3m² chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn T4, qua đo hiện trạng thực tế sử dụng thì mảnh đất có diện tích 514,7m² (tăng 0,4m²), trong đó đất làm vườn 250,9m², đất ở 263,8m². Trên đất có một nhà 2 tầng diện tích 78,8m2, 01 nhà cấp 4 diện tích 69,1m², 01 lán lợp tôn diện tích 36,3m², sân gạch diện tích 71,2m², tường bao đất
  2. Đất nông nghiệp:
    • Xứ đồng Đớ: Thửa số 02, tờ bản đồ 11 năm 2016 có diện tích 1.625m², đo thực tế hiện trạng sử dụng có diện tích 1.681m² (tăng 56m²).
    • Xứ đồng Giềng: Thửa số 99, tờ bản đồ 11 năm 2016 có diện tích 1.220m², đo thực tế hiện trạng sử dụng có diện tích 1.302m² (tăng 82m²)

Trên đất hộ ông L đang cấy lúa

Đối với diện tích đất nông nghiệp hộ ông L đang sử dụng vượt quá diện tích được giao, chính quyền địa phương có quan điểm UBND xã sẽ xem xét và quản lý.

* Việc định giá tài sản:

- Đất ở: Đất đang tranh chấp thuộc loại đất ở tại nông thôn, đường có mặt cắt từ 3m đến 7m tại thôn Đ, xã H, huyện Â, Hưng Yên có giá là 2.070.000đ/m².

Giá thực tế chuyển nhượng tại địa phương: Chính quyền địa phương cho biết qua nắm bắt giá thực tế chuyển nhượng đất tại địa phương hiện nay thì đất ở vị trí nhà cụ Nguyễn Văn T4 có giá khoảng 7.000.000đ/m²

Các đương sự không đề nghị định giá đối với các công trình xây dựng trên đất.

- Đất nông nghiệp:

Căn cứ vào Quyết định số 40/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh H quy định về việc ban hành quy định bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2020 -2024. Xác định: Đất đang tranh chấp thuộc loại đất nông nghiệp tiêu chuẩn 03 có đơn giá là 80.000đ/m².

Giá thực tế chuyển nhượng tại địa phương: Chính quyền địa phương cho biết qua nắm bắt giá chuyển nhượng đất trên thị trường tại địa phương hiện nay thì đất nông nghiệp tại các vị trí ruộng của gia đình cụ T5 có giá khoảng 125.000.000đ/sào, tương ứng 347.222đ/m².

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa chia di sản thừa kế của cụ T4, cụ T5 theo di chúc của cụ T5 và theo quy định của pháp luật, yêu cầu tính công sức trông nom, quản lý phần di sản là phần đất thổ cư của cụ T4, cụ T5.

Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Tòa chia đều di sản thừa kế của cụ T4 và cụ T5 cho các con. Phần đất thổ cư ông T2 được hưởng thừa kế ông tự nguyện cho ông T3, còn bà P1 cho ông T3 và ông L mỗi người một phần. Phần đất nông nghiệp được hưởng thừa kế, các ông bà đề nghị được nhận kỷ phần bằng hiện vật và chia chung vào một thửa để sử dụng chung.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thấy rằng:

Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

  1. Đường lối giải quyết vụ án:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 158, 165, 166 BLTTDS; Các Điều 646, 647, 648, 649, 650, 652, 653, 655, 674, 675, 676, 677 BLDS năm 2005; Điều 357, 623, 688 BLDS năm 2015; Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí, đề nghị:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L về việc chia di sản của cụ T4 và cụ T5 theo di chúc và theo quy định pháp luật.

- Tuyên bố di chúc của cụ Nguyễn Thị T5 có hiệu lực một phần.

- Xác định di sản của cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Nguyễn Thị T5 gồm: Thửa đất ở có diện tích 514,7m² thuộc thửa số 102, tờ bản đồ số 17 năm 2017 và 1.016m² đất nông nghiệp tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên,

- Theo hướng: Sau khi trừ áng trích công sức và diện tích lối đi chung. Chia cho ông L diện tích đất thổ cư đã xây dựng nhà hai tầng, sân lán hiện vợ chồng ông L đang quản lý sử dụng và một phần diện tích đất vườn; chia cho ông T3 diện tích đất thổ cư đã xây nhà cấp 4 và sân lán hiện ông T3 đang quản lý sử dụng và một phần diện tích đất vườn. Ông L và ông T3 có trách nhiệm trả giá trị chênh lệch kỷ phần được nhận cho nhau và cho ông Q và ông P.

Giao cho bà P1, ông T3, ông Q, ông P, ông T2 cùng với định suất ruộng bà P1 được nhà nước chia tại một vị trí cánh đồng. Giao cho ông L diện tích ruộng tại một vị trí cánh đồng còn lại cùng với định suất ruộng ông L, bà C1 được giao. Các đương sự có trách nhiệm hoàn trả chênh lệnh trị giá kỷ phần được nhận cho nhau.

Tạm giao cho các đương sự quản lý sử dụng đối với diện tích đất dôi dư. Các đương sự có trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

- Án phí, chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu án phí chia di sản thừa kế tương ứng với phần tài sản được chia và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản theo quy định.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Văn L khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Nguyễn Thị T5, do vậy quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” được quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi cư trú của các đương sự cũng như thửa đất đang tranh chấp đều có địa chỉ tại xã H huyện Â, tỉnh Hưng Yên, nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc thụ lý, giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Qúa trình giải quyết vụ án, các đương sự đều khai nhận cụ T4 và cụ T5 khi còn sống có tài sản chung là mảnh đất thổ cư tại số thửa 102, tờ bản đồ số 17 năm 2017 có diện tích 514m² và 1.322m² đất nông nghiệp tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, qua đo đạc hiện trạng thửa đất thổ cư có diện tích 514,7m², trong đó đất ở có diện tích 263,8m², đất vườn có diện tích 250,9m². Về phần đất nông nghiệp, theo xác minh với chính quyền địa phương mỗi người được giao diện tích đất 661m², số ruộng phần trăm của cụ T4 và cụ T5 04 miếng (144m²) đã trừ vào đất vườn trong nhà, cụ T5 đã cho người khác diện tích 100m² nên diện tích đất nông nghiệp của cụ T5 còn lại 489m², của cụ T4 còn lại 589m², năm 2013-2014 được chia chung với ruộng canh tác của vợ chồng ông L và bà P1 tại 02 thửa: thửa xứ đồng Đớ có diện tích 1.625m² và thửa xứ đồng Giềng có diện tích 1.220m² thuộc thôn Đ, xã H, huyện Â, Hưng Yên. Sau khi cụ T4 và cụ T5 chết, các tài sản trên sẽ trở thành di sản. Cụ T4 chết năm 1996 không để lại di chúc, còn cụ T5 chết năm 2023 có để lại di chúc.

Xét di chúc của cụ T5: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông T2, ông P, ông T3, ông Q không chấp nhận bản di chúc của cụ T5 do ông L cung cấp cho Tòa án vì các ông cho rằng bản di chúc đó không phải là chữ viết của cụ T5 và không có người làm chứng cũng như không có công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên căn cứ vào Kết luận giám định số 83/KL-KTHS ngày 26/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh H có đủ cơ sở xác định bản di chúc (BL 65) là do cụ T5 tự viết và ký tên, phù hợp với Điều 633 của Bộ luật dân sự. Tại phiên tòa, bà P1 và ông T2 khai: “Sau khi cụ T5 chết gia đình có tìm thấy di chúc của cụ T5 và đã đưa lại di chúc này cho ông L, nội dung di chúc cụ T5 để lại tài sản cho ông L”. Hơn nữa các đương sự đều thừa nhận khi còn sống cụ T5 khỏe mạnh, minh mẫn, cụ viết chữ thành thạo, có thời gian cụ vận động các con ký giấy tờ sang tên đất cho cụ và cụ có đến UBND xã để làm thủ tục. Do vậy có đủ căn cứ xác định bản di chúc là ý chí của cụ T5 trong việc định đoạt đối với phần tài sản của hai cụ. Tuy nhiên mảnh đất thổ cư là tài sản chung của cụ T5 và cụ T4 nên cụ T5 chỉ có quyền định đoạt đối với phần tài sản của mình, cụ không có quyền định đoạt đối với phần tài sản của cụ T4. Do vậy di chúc của cụ T5 chỉ có hiệu lực một phần.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L về việc chia di sản thừa kế của cụ T4, cụ T5 theo di chúc của cụ T5 và theo pháp luật là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3]. Phần công sức: Tại phiên tòa ông L đề nghị xem xét công sức của vợ chồng ông trong việc trông nom duy trì phần di sản là đất thổ cư của cụ T4 và cụ T5. Các đương sự thừa nhận khi các anh chị em đi lấy vợ, lấy chồng đều ở riêng chỗ khác, trên đất chỉ có vợ chồng ông L và cụ T5 sinh sống, năm 2022 ông T3 mới về xây nhà ở trên đất, do vậy yêu cầu về công sức của của ông L phù hợp với Điều 658 của BLDS nên được chấp nhận, sẽ tính công sức của vợ chồng ông L trong việc trông nom, quản lý phần di sản của cụ T4, cụ T5 đối với phần đất thổ cư số tiền là 30.000.000đ, tương đương với 4,28m² đất.

Các đương sự khác không ai có yêu cầu đề nghị gì về phần công sức nên không xem xét, giải quyết.

[4]. Lối đi chung: Khi chia di sản thừa kế cho những người được hưởng thừa kế bằng hiện vật là đất xét thấy cần thiết phải để một lối đi chung để các bên tiện sử dụng, nên sẽ lấy một phần đất có diện tích 17,1m² phía sau ngôi nhà của ông T3 xây để làm lối đi chung.

[5] Diện và hàng thừa kế, phương thức chia di sản

Sau khi đối trừ đi phần công sức của vợ chồng ông L là 4,28m² và diện tích đất làm lối đi chung 17,1m² thì phần đất thổ cư là tài sản chung của cụ T4 và cụ T5 còn lại là: 514,7m² - (4,28m²+ 17,1m²) = 493,32m². Theo Luật hôn nhân và gia đình mỗi người có ½ trị giá tài sản: (493,32m² : 2) = 246,66m² x 7.000.000đ/m² = 1.726.620.000đ.

a) Phân chia di sản của cụ T4:

Cụ T4 chết năm 1996 nên thời điểm mở thừa kế là năm 1996. Cụ T4 có vợ là cụ T5 và có 06 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: cụ T5, ông T2, ông Q, ông T3, ông P, bà P1 và ông L, nên di sản thừa kế của cụ T4 về phần đất thổ cư được chia cho 07 kỷ phần bằng nhau, mỗi kỷ phần trị giá: 1.726.620.000₫ : 7 = 246.660.000₫ (35,237m²).

Kỷ phần thừa kế ông T2 được hưởng từ cụ T4, ông tự nguyện nhường cho ông T3, còn kỷ phần thừa kế của bà P1 bà tự nguyện nhường cho ông L và ông T3 mỗi người một phần, nên phần thừa kế ông T3 được nhận là 246.660.000₫ x 2,5 = 616.650.000₫ (88,09m²). Phần thừa kế ông L được nhận là 246.660.000₫ x 1,5 = 369.990.000₫ (52,85m²)

Phần di sản là đất nông nghiệp của cụ T4 cũng được chia cho 07 kỷ phần thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm cụ T5, ông T2, ông Q, ông T3, ông P, bà P1 và ông L, mỗi kỷ phần trị giá: 589m² : 7 = 84,14m² x 347.222đ/m² = 29.216.259đ.

b) Phân chia di sản của cụ T5:

Cụ T5 chết năm 2023 nên thời điểm mở thừa kế là năm 2023, cụ T5 để lại di chúc định đoạt phần tài sản của cụ là ruộng, vườn cho ông L gồm:

- Phần đất thổ cư (vườn): Phần đất là tài sản của cụ T5 [250,9m² – 17,1m² (lối đi)]: 2 = 116,9m² có trị giá 818.300.000đ và phần đất được hưởng thừa kế từ cụ T4 có trị giá 116.900.000đ (16,7m²), tổng là 935.200.000đ(133,6m²).

- Đất nông nghiệp: 489m² (phần ruộng tiêu chuẩn của cụ T5) + 84,14m² (phần thừa kế được hưởng từ cụ T4) = 573,14m² trị giá 199.006.871₫.

Phần đất ở là tài sản của cụ T5 không định đoạt trong di chúc: (263,8m² – 4,28m²) : 2 = 129,76m² và diện tích đất ở 18,53m² được hưởng thừa kế từ cụ T4, tổng là 148,29m² trị giá 1.038.030.000₫ được chia cho 06 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: ông T2, ông Q, ông T3, ông P, bà P1, ông L, mỗi kỷ phần trị giá 1.038.030.000đ : 6 = 173.005.000₫ (24,71m²).

Kỷ phần thừa kế ông T2 được hưởng từ cụ T5, ông tự nguyện nhường cho ông T3, còn kỷ phần thừa kế của bà P1 bà tự nguyện nhường cho ông L và ông T3 mỗi người một phần, nên phần thừa kế ông T3 được nhận là 173.005.000₫ x 2,5 = 432.512.500₫ (61,78m²). Phần thừa kế ông L được nhận là 173.005.000₫ x 1,5 = 259.507.500₫ (37,07m²).

Như vậy phần thừa kế ông L được hưởng từ cụ T4, cụ T5 về phần đất thổ cư là có tổng trị giá: 935.200.000đ + 369.990.000₫ + 259.507.500₫ = 1.564.697.000₫ (223,52m²) và phần nông nghiệp có tổng trị giá: 199.006.871đ + 29.215.259đ = 228.222.076₫ (657,28m²).

Phần đất thổ cư ông T3 được hưởng từ cụ T4, cụ T5 có tổng giá trị: 432.512.500đ + 616.650.000₫ = 1.049.167.000₫ (149,87m²).

Ông L tự nguyện nhường cho ông Q, ông T2, ông T3, ông P, bà P1 phần đất nông nghiệp được hưởng từ cụ T4, cụ T5 diện tích 210m², mỗi người được nhận là 210 : 5 = 42m².

[6] Phân chia hiện vật:

a) Đất thổ cư: Do hiện nay ông L và ông T3 đã xây dựng nhà ở toàn bộ phần đất phía trước, nếu chia kỷ phần thừa kế bằng hiện vật cho ông Q và ông P phần đất vườn phía sau thì sẽ không có lối đi vào, hơn nữa ông Q và ông P đều đã có nhà đất riêng nên sẽ giao mảnh đất của cụ T4 và cụ T5 cho ông L và ông T3 mỗi người một phần để quản lý, sử dụng. Ông Q, ông P sẽ nhận kỷ phần thừa kế trị giá bằng tiền.

Cụ thể như sau:

- Giao cho ông L phần đất có diện tích 257m² (trong đó kỷ phần thừa kế ông L được hưởng là 223,52m², phần công sức 4,28m²) cùng các tài sản trên đất do ông L, bà C1 xây dựng tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên

- Giao cho ông T3 phần đất có diện tích 240,4m² (trong đó kỷ phần thừa kế là ông T3 được hưởng là 149,87m²) cùng các tài sản trên đất do ông T3 xây dựng tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

b) Đất nông nghiệp:

Tại phiên tòa các đương sự thống nhất phần ruộng canh tác chia cho mỗi người sẽ tập trung vào một thửa để tiện canh tác. Do vậy sẽ giao như sau:

- Giao cho ông L, bà C1 phần đất có diện tích 1.625m² tại xứ đồng Đớ thôn Đ, xã H (trong đó có 1.178 m² là ruộng tiêu chuẩn của ông L, bà C1 được giao, 447m² là phần thừa kế được hưởng). Phần đất còn lại ông L được hưởng thừa kế có diện tích 210m², ông L tự nguyện cho ông T2, ông Q, ông T3, ông P, bà P1 mỗi người diện tích 42m².

- Giao cho bà P1 phần đất có diện tích 715,2m² tại xứ đồng Giềng thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (trong đó 589m² là ruộng tiêu chuẩn của bà P1 được giao, 126,14m² là phần thừa kế).

- Giao cho ông T2, ông T3, ông Q, ông P diện tích đất 504,56m² tại xứ đồng Giềng để sử dụng chung (trong đó phần của mỗi người là 126,14m²).

[7] Việc trả tiền chênh lệch tài sản: Ông L có trách nhiệm trả cho ông Q số tiền 326.850.000đ. Ông T3 có trách nhiệm trả cho ông P số tiền 346.500.000đ.

[8] Về án phí và chi phí tố tụng:

Các đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định.

[9] Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Điều 147,157,165 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 611,612,613, 614, 620 điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 651, 660 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Nguyễn Thị T5 theo di chúc và theo quy định của pháp luật.
  2. Xác định di sản của cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Nguyễn Thị T5 gồm: Thửa đất thổ cư có diện tích 514,7m² thuộc thửa số 102, tờ bản đồ số 17 năm 2017 và 1.078m² đất nông nghiệp tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
  3. Tuyên bố di chúc của cụ Nguyễn Thị T5 có hiệu lực một phần.
  4. Để phần đất theo hình HGEDPQ có diện tích 17,1m² làm lối đi chung và trích công sức cho ông L, bà C1 diện tích đất 4,28m².
  5. Xác định phần đất còn lại là di sản của cụ Nguyễn Văn T4 để chia thừa kế có diện tích là 246,66m² trị giá 1.726.620.000đ và phần đất nông nghiệp có diện tích là 589m² trị giá 204.513.758đ sẽ được chia theo pháp luật cho 07 kỷ phần là cụ T5 và 06 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng phần di sản bằng nhau.
  6. Xác định phần đất thổ cư (vườn) là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T5 có diện tích 133,6m² trị giá 935.200.000đ và phần đất nông nghiệp có diện tích 573,14m² trị giá 199.006.871đ sẽ được chia theo di chúc cho ông Nguyễn Văn L là người được hưởng. Phần đất ở của cụ T5 có diện tích 148,29m² trị giá 1.038.030.000₫ sẽ chia theo pháp luật cho 06 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng phần di sản bằng nhau.
  7. Chấp nhận sự tự nguyện của ông T2 về việc cho ông T3 kỷ phần thừa kế là đất thổ cư được hưởng từ cụ T4, cụ T5. Chấp nhận sự tự nguyện của bà P1 về việc cho ông T3, ông L mỗi người một phần kỷ phần thừa kế là đất thổ cư được hưởng từ cụ T4, cụ T5.
  8. Chấp nhận sự tự nguyện của ông L về việc nhường cho ông Q, ông T2, ông T3, ông P, bà P1 phần diện tích đất nông nghiệp ông được hưởng thừa kế 210m², mỗi người 42m².
  9. Phân chia hiện vật:

    a) Đất thổ cư:

    - Giao cho ông L phần đất theo hình ABCD có diện tích 184m² và phần đất theo hình QPLM có diện tích 73m², tổng là 257m² trị giá 1.799.000.000đ (trong đó phần di sản thừa kế ông L được hưởng là 223,52m², phần công sức 4,28m²) thuộc một phần thửa đất số 102, tờ bản đồ số 17 năm 2017 tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên cùng các tài sản trên đất do ông L, bà C1 xây dựng.

    - Giao cho ông T3 phần đất theo hình FAEG có diện tích 79,8m² và phần đất theo hình IHLK có diện tích 160,6m², tổng là 240,4m² trị giá 1.682.800.000đ (trong đó phần di sản thừa kế ông T3 được hưởng là 149,87m²) thuộc một phần thửa đất số 102, tờ bản đồ số 17 năm 2017 tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên cùng các tài sản trên đất do ông T3 xây dựng.

    b) Đất nông nghiệp

    - Giao cho ông L, bà C1 thửa đất số 02 tờ bản đồ 11 có diện tích 1.625m² (trong đó có 1.178 m² là ruộng tiêu chuẩn của ông L, bà C1 được giao; 447m² trị giá 155.208.234₫ là phần thừa kế) tại xứ đồng Đớ thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

    - Giao cho bà P1 phần đất theo hình FCDE có diện tích 715,2m² (trong đó có 589m² là ruộng tiêu chuẩn của bà P1 được giao; 126,14m² trị giá 43.798.583đ là phần thừa kế bà P1 được hưởng) thuộc một phần thửa số 99 tờ bản đồ 11 tại xứ đồng Giềng thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên

    - Giao cho ông T2, ông T3, ông Q, ông P phần đất theo hình ABCF có diện tích 504,56m² (trong đó phần thừa kế của mỗi người được hưởng là 126,14m² trị giá 43.798.583đ) thuộc một phần thửa số 99 tờ bản đồ 11 tại xứ đồng Giềng thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên để sử dụng chung.

    Việc giao đất có sơ đồ kèm theo và không tách rời bản án

  10. Việc trả tiền chênh lệch tài sản: Ông L có trách nhiệm trả cho ông Q số tiền 326.850.000đ. Ông T3 có trách nhiệm trả cho ông P số tiền 346.500.000₫.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự.

  1. Án phí và chi phí tố tụng:

    - Án phí:

    Ông L phải chịu 70.626.247đ; ông T3 phải chịu 63.797.957đ; ông T2, bà P1 mỗi người phải 2.189.929đ; ông Q, ông P mỗi người phải chịu 20.785.200đ tiền án phí sơ thẩm dân sự.

    - Chi phí tố tụng:

    Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 15.000.000đ, ngày 02/01/2025 ông L đã nộp tạm ứng số tiền 15.000.000đ. Ông L phải chịu 6.000.000đ; ông T3 phải trả cho ông L số tiền 5.000.000đ; bà P1, ông T2 mỗi người phải trả cho ông L số tiền 500.000đ; ông Q, ông P mỗi người phải trả cho ông L số tiền 1.500.000₫.

  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Ân Thi;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Ân Thi
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/DSST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 18/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L - Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger