Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Bản án số: 18/2025/DS-ST

Ngày: 25/3/2025

V/v: “Tranh chấp kiện đòi tài sản”

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang

Các hội thẩm dân nhân: Ông Bùi Quang Hợi và ông Đào Đức Phú

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chiêm – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp Kiện đòi tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXX-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; vắng mặt

Trú tại: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

- Chị Vũ Thị Thu P, sinh năm 2002; có mặt

HKTT: Khu phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh

- Chị Bùi Thị Mỹ U, sinh năm 2002; vắng mặt

HKTT: xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn: Chị Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1984; vắng mặt

Trú tại: Số A, V, khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Chị và chị Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1984, HKTT: Số A, đường V, khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh có mối quan hệ quen biết, làm ăn với nhau. Chị cung cấp mặt hàng ngành mẹ và bé cho cửa hàng của chị Ngô Thị Thu H1 từ năm 2021 đến cuối năm 2023 thì chị Thu H1 không nhập hàng của chị nữa. Ngày 19/11/2023, do không thấy chị Thu H1 trả tiền hàng đã nợ nên chị đã yêu cầu chị Thu H1 lập Biên bản nhằm xác nhận số tiền hàng nợ. Theo biên bản xác nhận số tiền nợ, chị Thu H1 phải trả cho chị số tiền 381.000.000 đồng, mỗi tháng trả 5.000.000 đồng vào ngày 10-15 hàng tháng cho đến khi thanh toán hết tiền nợ, các bên không thỏa thuận gì về lãi suất, không có người làm chứng. Chị Thu H1 là người trực tiếp viết biên bản xác nhận nợ. Đến ngày 12/12/2023, chị Thu H1 có trả cho chị 4.000.000 đồng, sau đó không trả nữa. Đến ngày 4/4/2024 hai bên thỏa thuận chị nhận lại hàng tồn kho đã cung cấp cho chị Thu H1 trị giá 32.910.000 đồng để đối trừ số tiền còn nợ, hiện số tiền chị Thu H1 còn phải trả là 344.090.000 đồng, chị làm tròn thành 344.000.000 đồng. Đối với đề nghị được miễn phần lãi suất của bị đơn, chị có ý kiến như sau: Do thời gian nợ tiền đã lâu, bản thân chị cũng phải đi vay tiền từ những nguồn khác để duy trì công việc làm ăn và sinh hoạt gia đình. Do đó, chị đề nghị chị Ngô Thị Thu H1 trả làm 01 lần toàn bộ số tiền nợ gốc 344.000.000 đồng thì sẽ đồng ý miễn tiền lãi suất cho chị Ngô Thị Thu H1. Trường hợp chị Ngô Thị Thu H1 không đồng ý, nguyên đơn có yêu cầu lãi suất như sau:

  • - Mức lãi suất: 9%/năm
  • - Thời gian tính lãi:
    • + Từ ngày xác định chậm nghĩa vụ trả nợ là 16/01/2024 đến ngày trả được một phần tiền hàng là 04/4/2024: Tính lãi trên số nợ gốc là: 381.000.000 đồng x 9%/năm = 7.436.712 đồng.
    • + Từ ngày 05/4/2024 tạm tính đến thời điểm hiện tại là 10/12/2024: Tính lãi trên số nợ gốc là: 344.000.000 đồng x 9%/năm = 21.126.183 đồng.

Tổng số nợ lãi tạm tính đến ngày 10/12/2024 là 28.562.895 đồng.

Tổng số tiền tạm tính đến ngày 10/12/2024 mà phía nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán là: 372.562.895 đồng.

Tại phiên tòa, phía nguyên đơn đề nghị thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

- Về nợ gốc: Đề nghị bị đơn phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 344.000.000 đồng.

- Về lãi suất: Đề nghị bị đơn phải chịu mức lãi suất 9%/năm, từ ngày 05/4/2024 tạm tính đến thời điểm hiện tại là 25/3/2025 là 11 tháng, 20 ngày, tức 30.100.000 đồng.

Tổng số tiền chị Nguyễn Thị H yêu cầu chị Ngô Thị Thu H1 phải trả tạm tính đến ngày xét xử là 374.100.000 đồng.

Về lộ trình trả nợ: Đề nghị bị đơn trả nợ cho nguyên đơn làm 01 lần.

Bị đơn chị Ngô Thị Thu H1 vắng mặt tại phiên tòa. Theo bản khai, các nội dung làm việc tại Toà án, bị đơn trình bày:

Chị và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, HKTT: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa có mối quan hệ quen biết, làm ăn với nhau. Cụ thể, chị lấy mặt hàng ngành mẹ và bé từ chị Nguyễn Thị H để bán. Hai bên bắt đầu hợp tác với nhau từ khoảng năm 2021 cho tới cuối năm 2023 thì chị Ngô Thị Thu H1 không buôn bán và nhập hàng từ chị Nguyễn Thị H nữa. Đến ngày 19/11/2023, hai bên có lập 01 biên bản, xác nhận số tiền công nợ còn phải thanh toán cho chị Nguyễn Thị H là 381.000.000 đồng. Do tình hình làm ăn khó khăn, nên tôi đã thỏa thuận với chị H mỗi tháng sẽ trả 5.000.000 đồng vào ngày 10-15 hàng tháng cho tới khi thanh toán xong công nợ. Tại Biên bản xác nhận tiền hàng nợ, hai bên không thỏa thuận gì về lãi suất, không có người làm chứng. Chị Ngô Thị Thu H1 là người trực tiếp viết giấy xác nhận nợ nói trên.

Sau khi lập Biên bản xác nhận nợ, chị Ngô Thị Thu H1 có thanh toán cho chị Nguyễn Thị H 01 lần, số tiền 4.000.000 đồng vào ngày 12/12/2023. Sau đó, do hai bên không thỏa thuận được về việc trả nợ, dẫn tới có xích mích, chị Nguyễn Thị H có những hành động quá đáng tác động tới gia đình chị Ngô Thị Thu H1 nên bị đơn đã không trả nợ cho nguyên đơn nữa. Đối với số hàng hóa tồn kho mà chị Ngô Thị Thu H1 đã lấy, nguyên đơn đồng ý nhận lại để đối trừ vào số công nợ nói trên, số tiền là 32.910.000 đồng.

Chị Ngô Thị Thu H1 xác nhận nội dung trên Biên bản xác nhận công nợ là đúng, ngày lập Biên bản chính xác là ngày 19/11/2023. Hiện nay, số nợ gốc chị còn phải trả cho chị Nguyễn Thị H là 344.090.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về lãi suất: Hiện nay hoàn cảnh kinh tế của chị Ngô Thị Thu H1 rất khó khăn, bị đơn đề nghị được miễn phần lãi suất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu quan điểm tại phiên toà:

  • - Về tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với quan hệ tranh chấp: Đề nghị HĐXX xem xét thay đổi quan hệ tranh chấp của vụ án thành tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản theo Điều 430, 440 Bộ luật dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị HĐXX:
    • + Áp dụng Điều 26, 35, 39, 97, 98, 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
    • + Áp dụng Điều 274, 275, 276, 278, 280, 351, 357 Bộ luật dân sự;
    • + Áp dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016,
    • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Ngô Thị Thu H1 có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị H tổng số tiền là 374.100.000 đồng, trong đó:
      • + Tiền nợ gốc là 344.000.000 đồng;
      • + Về lãi suất: Chị Ngô Thị Thu H1 phải chịu mức lãi suất 9%/năm, từ ngày 05/4/2024 tạm tính đến ngày xét xử 25/3/2025 là 11 tháng, 20 ngày, tức 30.100.000 đồng.
  • - Về lộ trình trả nợ: Bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn làm một lần.
  • - Về án phí: Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu chị Ngô Thị Thu H1 phải thanh toán công nợ tiền hàng mà hai bên đã giao dịch trước đó. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn đã giao nộp Biên bản xác nhận nợ tiền hàng lập ngày 19/11/2023. Do vậy, cần xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại thời điểm thụ lý vụ án, chị Ngô Thị Thu H1 đang cư trú tại địa bàn thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đến nay chưa thay đổi. Do vậy Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa, bị đơn chị Ngô Thị Thu H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về thời hiệu khởi kiện: Tại phiên tòa các đương sự không có yêu cầu về thời hiệu khởi kiện.

- Xét biên bản xác nhận nợ tiền hàng:

Về tính hợp pháp của biên bản:

Khi xác nhận công nợ, chị Ngô Thị Thu H1 có tự tay lập biên bản với nội dung “Tên tôi là: Ngô Thị Thu H1... Tôi xác nhận số công nợ còn lại... Số tiền 381.000.000 (Ba tăm tám mươi mốt triệu đồng chẵn)... tôi sẽ thanh toán cho c H1 số tiền 5.000.000 (Năm triệu đồng) vào 10-15 hàng tháng...”, trên biên bản không thể hiện về số tiền lãi suất. Biên bản có chữ viết tay và chữ kí của chị Ngô Thị Thu H1. Tại biên bản có ghi nhận hai mốc thời gian là “Ngày 18/11/2023” ở phía trên và “Ngày 19/11” ở phía dưới. Tại các buổi làm việc với Tòa án, các đương sự đều xác nhận ngày lập biên bản chính xác là ngày 19/11/2023 và không có ý kiến gì khác, do vậy nội dung và hình thức của biên bản đảm bảo tuân thủ đúng, đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật dân sự năm 2015. Giao dịch dân sự hợp pháp và có hiệu lực pháp luật bắt buộc thi hành với tất cả các bên.

Về nội dung: Trên biên bản xác nhận nợ lập ngày 19/11/2023 do chị Ngô Thị Thu H1 tự tay viết và kí tên. Tại thời điểm kí kết biên bản, các bên không ở trong tình trạng không đủ năng lực trách nhiệm hành vi dân sự, do vậy biên bản đã thể hiện ý chí của chị Ngô Thị Thu H1 trong việc giao kết vay tài sản. Sau khi lập biên bản xác nhận nợ, chị Nguyễn Thị H xác nhận vào ngày 04/4/2024 đã đồng ý nhận lại một số hàng hóa mà trước đó hai bên đã giao dịch từ chị Ngô Thị Thu H1, nhằm cấn trừ vào công nợ gốc, nhờ đó số nợ gốc của chị Ngô Thị Thu H1 giảm xuống còn 344.090.000 đồng. Điều này đã thể hiện ý chí của hai bên trong quá trình lập biên bản nhận nợ và chứng minh được mối quan hệ mua bán tài sản giữa chị Ngô Thị Thu H1 và chị Nguyễn Thị H là có tồn tại, phù hợp với quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự.

Về lãi suất: Tại biên bản xác nhận nợ có ghi nhận nội dung: “tôi sẽ thanh toán cho c H số tiền 5.000.000 (Năm triệu đồng) vào 10-15 hàng tháng...”. Tuy nhiên các đương sự đều xác nhận chị Ngô Thị Thu H1 chỉ trả lại hàng hóa nhằm cấn trừ vào nợ gốc duy nhất một lần vào ngày 04/4/2024, ngoài ra không có lần thanh toán công nợ nào khác. Do vậy, nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn phải trả lãi trên số tiền chậm trả từ ngày 05/4/2024 là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 440 Bộ luật dân sự. Mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu là 9%/năm, phù hợp với quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, cần được chấp nhận.

Về lộ trình trả nợ: Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả tiền làm một lần là có căn cứ, cần được xem xét.

Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự. Do vậy cần xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, buộc chị Ngô Thị Thu H1 phải trả tiền cho chị Nguyễn Thị H.

[3] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H: Buộc chị Ngô Thị Thu H1 có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị H tổng số tiền là 374.100.000 đồng (Ba trăm bảy mươi tư triệu, một trăm nghìn đồng), trong đó:
    • + Tiền nợ gốc là 344.000.000 đồng;
    • + Về lãi suất: Chị Ngô Thị Thu H1 phải chịu mức lãi suất 9%/năm, từ ngày 05/4/2024 tạm tính đến ngày xét xử 25/3/2025 là 30.100.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Về án phí: Chị Ngô Thị Thu H1 phải chịu 18.705.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại chị Nguyễn Thị H 9.860.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001021 ngày 11/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

    Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND TP. Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ: Văn phòng.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Quang Hợi

Đào Đức Phú

Phạm Vũ Minh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 18/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger