TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/DS-ST Ngày: 22/5/2025 V/v: Tranh chấp họ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Lương Vượng
2. Ông Nguyễn Lai
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 22/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 143/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp huê” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-DS ngày 08/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-DS ngày 24/4/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/9/2024, Biên bản hòa giải và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Ngày 20/8/2021 âm lịch bà Đ có tham gia dây huê do bà Nguyễn Thị H làm cái huê, dây huê có 17 người tham gia, mỗi chân huê là 2.000.000 đồng. Các thành viên đều đóng tiền đầy đủ, bà Đ là người hốt huê cuối cùng vào ngày 20/12/2022 âm lịch, sau khi trừ số tiền hoa hồng cho bà H là 600.000 đồng, số tiền còn lại là 31.400.000 đồng. Nhưng bà H đã không giao số tiền hốt huê lại cho bà Đ. Bà Đ đã yêu cầu nhiều lần nhưng bà H không đưa nên bà đã trình báo với Công an xã, tại cơ quan Công an bà H đã thừa nhận sự việc và đã viết Bản cam kết hẹn mỗi tháng trả cho bà Đ 3.000.000 đồng, nhưng sau khi trả được 4.000.000 đồng cho đến nay bà H không tiếp tục trả số tiền còn lại là 27.400.000 đồng cho bà.
Đối với dây huê 5.000.000 đồng trước đây trong đơn khởi kiện bà Đ có yêu cầu Toà án giải quyết, nhưng do bà chưa có giấy tờ xác nhận nợ huê do bà H ký nên bà xin rút yêu cầu đối với dây huê này.
Nay bà Đ yêu cầu Toà án buộc bà H phải trả cho bà 1 lần số tiền 27.400.000 đồng khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Diễm H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nên không tiến hành công khai chứng cứ được;
Theo biên bản xác minh ngày 07/11/2024, Công an xã C thì bà Nguyễn Thị Diễm H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Tại thời điểm xác minh bà H đang sinh sống tại địa phương.
Tại phiên toà:
- - Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt;
- - Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm có quan điểm:
- * Về tố tụng: Đây là tranh chấp về họ quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự 2015, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
- * Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với dây họ 2.000.000 đồng với số tiền yêu cầu bị đơn phải trả là 27.400.000 đồng. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện đối với dây họ 5.000.000 đồng với số tiền yêu cầu bị đơn phải trả là 35.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Diễm H có hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Diễm H trả số tiền nợ họ (theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2015 thì họ là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên) do đó đây là tranh chấp dân sự về việc tranh chấp họ nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Việc Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Diễm H có mặt tại địa phương, Toà án đã tiến hành các thủ tục niêm yết và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tuy nhiên H vẫn cố tình trốn tránh không đến Tòa án để giải quyết vụ án nên vụ án không tiến hành hoà giải được. Do vậy, căn cứ vào Điều 207 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cung cấp 01 bản phô tô danh sách ghi “Huê 2.000.000 đồng” không có chữ ký xác nhận của bất kỳ ai và 01 bản gốc Bản cam kết ngày 10/7/2023 có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị Diễm H với số tiền xác nhận còn nợ là 31.400.000 đồng đúng với số tiền bà Nguyễn Thị Đ đã yêu cầu đối với dây họ 2.000.000 đồng. Nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã trả được 4.000.000 đồng, còn nợ 27.400.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định bị đơn bà Nguyễn Thị Diễm H còn nợ bà Nguyễn Thị Đ số tiền họ là 27.400.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn Nguyễn Thị Diễm H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Đ 27.400.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự.
Ngoài ra, tại đơn khởi kiện và bản tự khai của bà Đ thể hiện bà còn tham gia 01 dây họ khác do bà H làm cái với số tiền chơi trong 7 tháng là 35.000.000 đồng. Tuy nhiên bà Đ đã tự nguyện rút yêu cầu đối với dây họ này do chưa cung cấp được giấy tờ để chứng minh cho yêu cầu. Hội đồng xét xử nhận thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đ là tự nguyện nên cần chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà bà đã rút là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố Tụng dân sự.
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường Vụ Quốc Hội Khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đầm .
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Diễm H phải chịu 1.370.000 đồng (Một triệu ba trăm bảy mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Diễm H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 27.400.000 đồng (Hai mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng).
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với số tiền 35.000.000 đồng của dây họ góp 5.000.000 đồng.
H1 lại cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 1.560.000 đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số: 0008011 ngày 08/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.
Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả, theo mức thỏa thuận hoặc theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận :
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Huệ |
Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp họ
- Số bản án: 18/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp họ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
