|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG Số: 18/2025/DS- ST Ngày: 20/02/2025 V/v: “Tranh chấp Đòi tài sản” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Điền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Tấn Đấu
- Ông Nguyễn Phước Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Thái- Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2023/TLST-DS, ngày 04 tháng 5 năm 2023, về việc “Tranh chấp đòi tài sản từ hợp đồng góp vốn chuyển nhượng QSD đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QÐST- DS, ngày 02/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21A?QĐST- DS, ngày 20/12/2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa dân sự sơ thẩm số 12/TB- TA, ngày 17/01/2025, giữa:
* Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B B, khu phố B, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1955, văn bản ủy quyền ngày 21/7/2022 (có mặt).
Địa chỉ: Số H T, phường A, quận E, thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Thường trú: Số B đường D P, phường A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: Số 5.07 lầu 5 Lock B Chung cư Cao tầng và Thương mại dịch vụ văn phòng tại số E K, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thanh T (Vợ ông H2 cùng địa chỉ), vắng mặt.
- Bà Lương Thị K, sinh năm 1967 (Vợ ông H cùng địa chỉ), có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Văn H ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Ông H với ông Nguyễn Văn H2 quen biết, thân tình với nhau. Vào năm 2018, ông H2 có dự định mua đất tại thửa đất số 150, tờ bản đồ số: 52 thuộc ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Ông H2 yêu cầu ông H góp vốn 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) tham gia đầu tư và sau này phân chia theo giá trị góp vốn. Do tin tưởng anh em với nhau nên ông H giao cho ông H2 số tiền trên, ông H2 có làm biên nhận tiền vào ngày 24/4/2018. Sau khi nhận tiền ông H2 không làm các thủ tục góp vốn để có quyền lợi trên thửa đất nói trên, ông H có nhắc ông nhiều lần nhưng ông H2 hứa sẽ thực hiện theo cam kết trong biên nhận tiền. Chờ mãi một thời gian quá lâu, sau đó ông H tìm hiểu thì phát hiện ông H2 đã lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO H00384 vào sổ cấp giấy CN: CH05295 do UBND huyện P (Nay là thành phố P) cấp ngày 20/5/2015 có đặc điểm: thửa đất số 150, tờ bản đồ số: 52 thuộc Ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà Lê Ngọc N, sinh năm 1985. Thường trú: Số H đường số B, tổ A, khu phố F, phường H, quận T, TP .. Mặc dù trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không ghi số tiền hai bên thỏa thuận là bao nhiêu, nhưng qua tìm hiểu bạn bè của ông H2 thì được biết Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số số 150, tờ bản đồ số 52 thuộc Ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang có giá trị khoảng 4.000.000.000 đồng (Bốn tỉ đồng). Nhận thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm, ông H có điện thoại cho ông H2 để yêu cầu ông trả lại phần tiền đã nhận của ông H, ông H2 hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện và ông H gọi điện cho ông nhưng ông tắt máy điện thoại. Gần đây ông H gửi thông báo kỳ hạn cho ông H2 trả tiền nhưng ông lẩn tránh không nhận thông báo của ông H.
Nay nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Văn H2 hoàn trả số tiền đã nhận của ông H là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
- Buộc ông Nguyễn Văn H2 phải trả tiền lãi từ ngày vi phạm nghĩa vụ (Từ ngày 24/4/2018 đến ngày 24/02/2023) tạm tính là: 200.000.000 x 0,83% x 58 tháng = 96.280.000 đồng (Chín mươi sáu triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) và tiếp tục tính lãi suất cho đến ngày xét xử sơ thẩm (20/02/2025) là 69.280.000 đồng+ 39.619.000đồng= 108.899.000đồng
Tổng cộng tiền nợ và tiền lãi là 308.899.000 đồng (Ba trăm lẽ tám triệu, tám trăm chín mươi chín nghìn đồng).
- Tại phiên tòa xét xử bị đơn Nguyễn Văn H2 đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không tham gia tổ tụng tại Tòa án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến gì thêm được.
* Tại phiên tòa xét xử người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không tham gia tố tụng tại Tòa án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến gì thêm được.
2
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị K có đơn xin vắng mặt và có bản tự khai nộp cho Tòa án với nội dung như sau: Bà là vợ ông Phạm Văn H nguyên đơn trong vụ án.
Đối với mọi yêu cầu, ý kiến, lời khai và mọi quyết định của ông H, bà hoàn toàn thống nhất với toàn bộ lời khai, ý kiến và mọi quyết định của chồng mình, ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc có ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật như: Thụ lý đúng thẩm quyền; Thẩm phán đã thực hiện việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự đúng theo quy định, xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, xác minh, thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các bước tiến hành thủ tục phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo được tính khách quan của vụ án; Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa chấp hành tốt quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã quá thời gian theo quy định pháp luật nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án, thẩm phán cần rút kinh nghiệm chung;
Về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 116, 166, 357, 468, 422, 504, 505, 506, 507 BLDS 2015.
Đề nghị: Tuyên chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Nguyễn Văn H2 phải trả cho ông Phạm Văn H số tiền gốc góp vốn 200.000.000đồng.
Buộc ông H2 phải trả tiền lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông H từ ngày 29/7/2022 đến ngày 20/02/2025 là (200.000.000₫ x 10% x 28 tháng, 19 ngày) = 47.426.666đồng. Tổng cộng buộc ông Nguyễn Văn H2 phải hoàn trả tiền gốc và lã suất cho ông Phạm Văn H là 247.426.666 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Văn H2 phải trả số tiền lãi phát sinh từ ngày 24/4/2018- 29/7/2022 với số tiền là 61.472.334 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định.
3
[I]. Về thủ tục: Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, việc ủy quyền phù hợp quy định tại Điều 227 BLTTDS; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị K có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà K; Bị đơn ông Nguyễn Văn H2 và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt ông H2 và bà T. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp Đòi tài sản từ hợp đồng góp vốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc về vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án sẽ rút kinh nghiệm chung.
[II] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H:
Buộc ông Nguyễn Văn H2 hoàn trả số tiền nhận của ông H là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và phải trả tiền lãi từ ngày vi phạm nghĩa vụ (24/04/2018 đến ngày 24/02/2023) cho ông H là: 200.000.000 x 0,83% x 58 tháng = 96.280.000 đồng” và tiếp tục tính lãi suất cho đến ngày xét xử sơ thẩm (20/02/2025) là 69.280.000 đồng+ 39.619.000đồng= 108.899.000đồng
Tổng cộng tiền nợ và tiền lãi là 308.899.000 đồng (Ba trăm lẽ tám triệu, tám trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ông Phạm Văn H với ông Nguyễn Văn H2 có mối quan hệ quen biết nhau. Năm 2018, ông H2 yêu cầu ông H góp số vốn 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) tham gia đầu tư và sau này phân chia theo giá trị góp vốn. Ông H đã giao cho ông H2 số tiền 200.000.000đồng, ông H2 có làm biên nhận tiền vào ngày 24/04/2018 (bút lục 05). Sau khi nhận tiền ông H2 không làm các thủ tục góp vốn để ông H có quyền lợi trên thửa đất số 150, tờ bản đồ số 52 thuộc ấp K, xã C, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Ông H có nhắc ông H2 nhiều lần nhưng ông H2 hứa sẽ thực hiện theo cam kết. Sau một thời gian chờ đợi quá lâu, ông H tìm hiểu thì phát hiện ông H2 đã tự ý lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7829 ngày 12/12/2020 (Bút lục 08) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO H00384 vào sổ cấp giấy CN: CH05295 được UBND huyện P (nay là Ủy ban nhân dân thành phố P) cấp ngày 20/05/2015 có đặc điểm thửa đất số 150, tờ bản đồ số 52 thuộc ấp K, xã C, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên
4
Giang cho bà Lê Ngọc N, sinh năm 1985. Thường trú. 82/49/6 đường số B, tổ A, khu phố F, phường H, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi ông H2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N, ông H2 không trả tiền cho ông H theo tỷ lệ góp vốn mà hai bên đã thỏa thuận; cũng không trả lại tiền gốc lại cho ông H. Nhận thấy quyền lợi bị xâm phạm, ông H có điện thoại cho ông H2 để yêu cầu ông H2 trả lại phần tiền đã nhận của H, ông H2 hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện. Ngày 29/07/2022 ông H viết văn bản thông báo yêu cầu hoàn trả số tiền góp vốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, gửi cho ông H2 qua đường B nhưng ông H2 không nhận (Bút lục 19 và bút lục 20).
Tại phiên tòa, phía ông H chỉ yêu cầu một mình ông H2 phải có nghĩa vụ trả lại tiền gốc 200.000.000đồng và xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông H2 phải trả số tiền lãi phát sinh từ ngày 24/4/2018- 29/7/2022 với số tiền là 61.472.334 đồng mà chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét buộc ông Nguyễn Văn H2 phải trả tiền lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông H từ ngày 29/7/2022 đến ngày 20/02/2025 là (200.000.000đồng x 10% x 28 tháng, 19 ngày) = 47.426.666đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu tính lãi suất chậm trả của nguyên đơn phù hợp quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 BLDS nên chấp nhận.
Tổng cộng buộc ông Nguyễn Văn H2 phải hoàn trả tiền gốc và lã suất cho ông Phạm Văn H là 247.426.666 đồng.
[III] Về án phí:
Nguyên đơn ông Phạm Văn H là người cao tuổi nên được miễn án phí thuộc trường hợp được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Nguyễn Văn H2 phải nộp số tiền án phí là: 247.426.666 đồng x 5% = 12.371.333 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T và bà Lương Thị K không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
5
Áp dụng các Điều 5, 26, 35, 39, 217, 227, 228, 24 7, 266, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 116, 166, 357, 468, 422, 504, 505, 506, 507 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- + Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H2.
- + Buộc ông Nguyễn Văn H2 phải trả cho ông Phạm Văn H số tiền gốc góp vốn 200.000.000đồng và phải trả tiền lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông H từ ngày 29/7/2022 đến ngày 20/02/2025 là (200.000.000₫ x 10% x 28 tháng, 19 ngày) = 47.426.666đồng. Tổng cộng ông Nguyễn Văn H2 phải hoàn trả cho ông Phạm Văn H là 247.426.666 đồng.
- + Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Văn H2 phải trả số tiền lãi phát sinh từ ngày 24/4/2018 đến ngày 29/7/2022 với số tiền là 61.472.334 đồng.
Về án phí:
Nguyên đơn ông Phạm Văn H là người cao tuổi nên được miễn án phí thuộc trường hợp được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Nguyễn Văn H2 phải nộp án phí với số tiền là 12.371.333 đồng tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T và bà Lương Thị K không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày có đơn thi hành án bên phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Báo cho nguyên đơn biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận
6
được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
7 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Thanh Điền |
Bản án số 18/2025/DS- ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 18/2025/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chap doi tai san
