TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/DS-ST
Ngày: 18-02-2025
V/v: “Tranh chấp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Hữu Hiệp
Ông Huỳnh Việt Bắc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 294/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
· Nguyên đơn: Ông Chung Minh D, sinh năm 1968 (xin vắng mặt)
Nơi cư trú: đường số B, khu đô thị N, ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
· Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Phong C, sinh năm 1984 (vắng mặt)
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Chung Minh D trình bày: Vào năm 2021, ông có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị Phong C tổ chức và làm chủ hụi. Dây hụi mở ngày 25/9/2021 âm lịch, mỗi tháng khui một lần, loại hụi 3.000.000 đồng, tổng cộng 27 chân, ông tham gia 01 chân. Chưng hụi trên ông hốt hụi được số tiền 77.000.000 đồng, trừ cò còn 71.500.000 đồng, nhưng bà C không giao tiền hụi. Đến ngày 16/3/2024, bà C viết giấy cam kết mỗi tháng sẽ trả cho ông 3.000.000 đồng. Sau đó, bà C trả được 04 lần với số tiền 3.000.000 đồng, còn nợ lại 68.500.000 đồng thì không trả nữa. Nhận thấy, bà C và chồng Nguyễn Văn T có điều kiện kinh tế, nhưng cố tình không trả nợ, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện U Minh xem xét giải quyết buộc bà C, ông T liên đới trả số tiền 68.500.000 đồng, kèm lãi suất 01%/tháng từ ngày 16/3/2024 đến ngày 16/8/2024 với số tiền lãi là 3.420.000 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lãi tạm tính là 71.920.000 đồng.
Tại đơn yêu cầu ngày 17/02/2025 ông D thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, ông rút lại yêu cầu tính lãi suất 01% với số tiền 3.420.000 đồng. Đồng thời, bà C đã trả thêm cho ông số tiền 750.000 đồng. Hiện nay, bà C, ông T còn nợ ông số tiền của chưng hụi ngày 25/9/2021 âm lịch là 67.750.000 đồng.
* Đối với bà Nguyễn Thị Phong C và ông Nguyễn Văn T trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà C, ông T đúng theo quy định pháp luật nhưng bà C, ông T vắng mặt, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông D và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Ông D khởi kiện yêu cầu bà C, ông T trả tiền hụi. Xét đây là quan hệ tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hụi”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ông D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T, bà C vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông D, ông T, bà C theo quy định.
Ông D có đơn yêu cầu rút lại một yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi suất 01% với số tiền 3.420.000 đồng và bà C đã trả thêm cho ông số tiền 750.000 đồng, nên ông chỉ yêu cầu bà C, ông T liên đới trả số tiền là 67.750.000 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông D đối với ông T, bà C không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về nội dung:
Xét thấy, giữa ông D với bà C có xác lập việc chơi hụi với nhau và bà C nợ ông D số tiền hụi 67.750.000 đồng là có thật, thể hiện tại giấy nhận nợ hụi ngày 16/3/2024. Do đó, đây là sự thật khách quan không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do đây là khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân giữa bà C với ông T. Bởi lẽ, vợ chồng bà C, ông T, chung sống với nhau nhiều năm và hiện nay vẫn còn chung sống với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông D về việc buộc ông T cùng liên đới trả số tiền hụi 67.750.000 đồng cùng với bà C.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông D về việc buộc ông T, bà C cùng liên đới trả cho ông D số tiền hụi 67.750.000 đồng.
Về án phí: Án phí dân sự có giá ngạch ông T, bà C phải liên đới nộp số tiền 3.387.500 đồng. Ông D không phải nộp án phí, ông D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã dự nộp, khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b, khoản 2, Điều 227; Điều 244; Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 288; Điều 468; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án. Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Chung Minh D đối với bà Nguyễn Thị Phong C, ông Nguyễn Văn T.
- Buộc bà Nguyễn Thị Phong C, ông Nguyễn Văn T liên đới trả cho ông Chung Minh D số tiền 67.750.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Chung Minh D về việc buộc bà Nguyễn Thị Phong C, ông Nguyễn Văn T liên đới trả số tiền lãi 3.420.000 đồng.
- Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Phong C liên đới nộp án phí số tiền 3.387.500 đồng.
Hoàn trả cho ông Chung Minh D số tiền 1.798.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006803, ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài H |
Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 18/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Dũng yêu cầu bà Châu trả tiền hụi
