|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/DS-ST Ngày: 15/4/2025. V/v tranh chấp “Đòi lại quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Thanh Huỳnh .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Huệ.
- Ông Lê Văn Thừa.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Công Khánh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “ Đòi lại quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV N.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Huyền T1, sinh năm 1984. (vắng mặt có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1972. (vắng mặt có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn A. (vắng mặt có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1994. (vắng mặt có đơn yêu cầu vắng mặt)
Địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, TP ..
Đại diện theo uỷ quyền: Anh Nguyễn Văn K – Chức vụ: Phó phòng Xây dựng - Địa chính.
Địa chỉ ấp H, xã T, huyện V, TP ..
Cùng địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong các đơn khởi kiện ngày 22 tháng 4 năm 2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 24 tháng 12 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Văn K
trình bày: Nguyên đơn Công ty TNHH MTV N được U giao đất để kinh doanh và cho các hộ dân thuê khoán quyền sử dụng đất. Nguyên đơn cũng đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00023/QSD đất cấp ngày 11/3/1997. Quá trình quản lý sử dụng đất bị đơn bà Nguyễn Thị T đã tự ý xây cất nhà trên phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 95,2m² khi chưa được sự đồng ý của nguyên đơn. Khi sự việc xảy ra nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trả lại đất cho nguyên đơn, đồng thời vận động bị đơn không được xây dựng nhà, bao chiếm đất trái phép nhưng phía bị đơn không thực hiện và cố tình chống đối, xây dựng nhà đến cùng. Việc xây dựng do ông Nguyễn Thành P1 đứng ra trông coi, thực tế nhà và xây dựng trái phép là của bị đơn. Sau khi nhà hoàn thành phía bị đơn cho con gái là chị Nguyễn Thị Huyền T1 quản lý sử dụng cho đến nay. Nay nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Nguyễn Thị T cùng con gái là chị Nguyễn Thị Huyền T1 tháo dỡ, di dời nhà trả lại phần đất lấn chiếm theo đo đạc thực tế 95,2m².
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Chồng bà mất, bà sống một mình, hiện nay bà lớn tuổi ở một mình, thấy phần đất này rẻ, giá chỉ 70.000.000đồng nên bà nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị P để xây cất nhà ở cạnh con gái là chị Nguyễn Thị Huyền T1. Sau khi xây cất, bà cho con gái là chị T1 quản lý, sử dụng cho đến nay. Trước đây, bà có nhờ em trai là Nguyễn Thành P1 trông coi giúp bà xây dựng nhà, thực tế nhà và đất bà xây và mua lại của người khác không liên quan đến ông P1. Nay, bà không đồng ý tháo dỡ, di dời nhà trả lại cho nguyên đơn.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Huyền T1 vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt, quá trình giải quyết vụ án chị T1 trình bày: Chị là con của bà Nguyễn Thị T, phần đất tranh chấp mẹ chị mua của người khác với giá 70.000.000đồng. Nhà do mẹ chị xây cất và nhờ chị trông coi nhà. Nay, mẹ chị tranh chấp đất với nguyên đơn thì chị không có ý kiến gì việc tranh chấp các bên tự giải quyết.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn A, anh Nguyễn Văn M vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt, quá trình giải quyết vụ án bà P trình bày: Ngày 10/12/2023 bà có chuyển nhượng đất ( phần đất tranh chấp) cho bà Nguyễn Thị T với giá 70.000.000đồng, đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này bà được người cậu tặng cho đất phía trước mặt tiền đất của cậu, do không có điều kiện làm bờ kè để xây cất nhà nên chuyển nhượng lại đất cho bà T. Nay, bà xác định không tranh chấp phần đất này. Việc các bên tranh chấp đất thì các bên tự giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV N.
- - Buộc bà Nguyễn Thị T và chị Nguyễn Thị Huyền T1 có trách nhiệm liên đới tháo dỡ, di dời các tài sản trên phần đất tranh chấp trả lại nguyên đơn diện
tích 95,2m²
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định vụ án có quan hệ tranh chấp “ Đòi lại quyền sử dụng đất”. Căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn M và chị Nguyễn Thị Huyền T1 vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, có căn cứ xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Toà án đã tổ chức cho các đương sự trong vụ án hoà giải thoả thuận với nhau nhưng các bên không thoả thuận được nên cần đưa vụ án ra xét xử.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty TNHH MTV N giao đất diện tích 5.950,46 ha đất để hoạt động sản xuất kinh doanh, cho thuê khoán quyền sử dụng đất trong đó có phần đất các bên tranh chấp diện tích 95,2m². Phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn, không được nguyên đơn cho bị đơn bà Nguyễn Thị T cũng như người khác thuê khoán nhưng bà T tự ý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người khác, tự ý sang lấp, xây bờ kè cất nhà trên diện tích 95,2m². Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bắt đầu xây dựng bờ kè thì nguyên đơn phối hợp với chính quyền địa phương 02 lần vận động yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên phần đất của nguyên đơn quản lý nhưng phía bị đơn không chấp hành và xây cất nhà đến cùng, điều đó chứng tỏ bị đơn xem thường pháp luật, cố tình xây dựng nhà trái phép trên đất của nguyên đơn đến cùng. Do đó, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị Huyền T1 có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ công trình, tài sản trên phần đất tranh chấp trả lại nguyên đơn diện tích 95,2m² là phù hợp.
Đối với việc chuyển nhượng đất giữa bà T với gia đình bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn A và anh Nguyễn Văn M theo hợp đồng mua bán đất ở lập ngày 10/12/2023, Hội đồng xét xử thấy rằng tại thời điểm chuyển nhượng đất gia đình bà P không có quyền sử dụng đất phần đất chuyển nhượng, hai bên cũng chỉ lập giấy tay mua bán đất. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng đất giữa các bên vi phạm về nội dung cũng như hình thức theo quy định pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, trong vụ án này phía bị đơn và gia đình bà P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét mà cần dành quyền khởi kiện cho các bên nếu phát sinh tranh chấp là phù hợp.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, do bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên miễn án phí.
[5] Chi phí xem xét, thẩm định, đo đạc, định giá tài sản: Nguyên đơn đã tạm ứng 8.000.000 đồng và chi xong. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền 8.000.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 26, Điều 27, Điều 235, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024.
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV N đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T.
- - Buộc bà Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị Huyền T1 tháo dỡ công trình, di dời tài sản trên đất tranh chấp trả cho nguyên đơn phần đất diện tích 95,2m², loại đất 2L do nguyên đơn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Vị trí, kích thước, diện tích phần đất buộc bị đơn tháo dỡ, di dời trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo bản trích đo địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C đo vẽ lập ngày 27/9/2024.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho bà Nguyễn Thị T. Nguyên đơn Công ty TNHH MTV N được nhận lại 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008013 ngày 07/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, TP ..
- Chi phí xem xét, thẩm định, đo đạc, định giá tài sản: Nguyên đơn đã tạm ứng 8.000.000đồng và chi xong. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền 8.000.000đồng.
Phiên tòa xét xử công khai, tuyên án có mặt đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn và có mặt bị đơn, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn M, chị Nguyễn Thị Huyền T1.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thanh Huỳnh |
Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ về đòi lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 18/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV N đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T. - Buộc bà Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị Huyền T1 tháo dỡ công trình, di dời tài sản trên đất tranh chấp trả cho nguyên đơn phần đất diện tích 95,2m2, loại đất 2L do nguyên đơn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
