TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/DS-PT Ngày: 27/02/2025 V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thụ
Các thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Như
Bà Tô Thị Thùy Ngân
- Thư ký phiên tòa: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa : Bà Chung Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2024/TLPT - DSPT ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1957; Địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C - sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Hoàng Đức G - sinh năm 1951; Địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị M - sinh năm 1955; Địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Bà Hoàng Thị H - sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Ông Hoàng Minh T1 - sinh ngày 24/9/2006; Địa chỉ: Tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị H - sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
1
- Ông Hoàng Đức G1 - sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế H1; chức vụ: Chủ tịch; vắng mặt có lý do.
- Ông Nguyễn Văn B - sinh năm 1952; Địa chỉ: Số A, hẻm C đường B, phường V, quận B, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H2 - sinh năm 1964; Địa chỉ: xóm P, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H3 - sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Bà Phạm Thị N - sinh năm 1950; Địa chỉ: Tổ D, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Ông Nguyễn Đại P - sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ D, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hồng V - sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt.
Đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, bà Phạm Thị N, bà Nguyễn Thị Hồng V, ông Nguyễn Đại P: Ông Nguyễn Văn T sinh năm 1957; Địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
Luật sư Nguyễn Thị Minh T2 và Luật sư Phùng Văn Q - thuộc Công ty L1, đoàn luật sư thành phố H, địa chỉ: Căn hộ A, Tòa nhà N P, KDT Ngoại Giao Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T – là nguyên đơn và là người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, bà Phạm Thị N, bà Nguyễn Thị Hồng V, ông Nguyễn Đại P trình bày:
Về quan hệ: Ông Nguyễn Văn T3 (sinh năm 1921, chết năm 1979) và bà Phạm Thị B2 (sinh năm 1923, chết năm 2018) có 07 người con chung, gồm: bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị T4 (sinh năm 1960, chết năm 2018) không có chồng, con; ông Nguyễn Văn T5 (sinh năm 1947, chết năm 2021) có vợ là bà Phạm Thị N và có 02 con chung là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V.
Về di sản thừa kế của bà Phạm Thị B2 để lại:
2
Năm 2003 bà Phạm Thị B2 nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Đức G và bà Nguyễn Thị M (con rể và con gái của bà Phạm Thị B2) ngôi nhà và diện tích đất 85m² thuộc một phần thửa đất số 57, tờ bản đồ số 59, bản đồ địa chính 1995, nay là một phần thửa đất số 60, tờ bản đồ số 2, bản đồ địa chính năm 2015, có địa chỉ tại tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Việc chuyển nhượng đất được ghi nhận tại Biên bản họp gia đình ngày 04/01/2003; Biên bản họp gia đình ngày 15/6/2004 có xác nhận của người làm chứng, tổ dân phố và Ủy ban nhân dân phường S và đã có Đơn xin sang tên quyền sử dụng đất lập ngày 25/11/2007, có chữ ký của các bên, có xác nhận của tổ dân phố, của cán bộ địa chính và Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C.
Sau khi nhận chuyển nhượng, bà B2 đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 85m² nhưng do toàn bộ đất của ông G, bà M nằm trong quy hoạch để làm đường V; ông G, bà M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên mặc dù năm 2007 các bên đã có “Đơn xin sang tên quyền sử dụng đất” lập ngày 25/11/2007 gửi Phòng tài nguyên môi trường thành phố C để làm thủ tục chuyển nhượng hợp pháp và sang tên quyền sử dụng đất từ ông G bà M cho bà B2 nhưng không thực hiện được, phần đất 85m² bà B2 nhận chuyển nhượng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà B2. Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất, phần diện tích 85m² của bà B2 vẫn nằm trong thửa đất số 57, tờ bản đồ số 59, bản đồ địa chính năm 1995, diện tích 618m² (diện tích thực tế là 1.041m²) của ông G, bà M nên ông G đã kê khai nhận tiền bồi thường đối với phần đất 85m² đã chuyển nhượng cho bà B2.
Nhà nước thu hồi đất để làm đường V năm 2018, khi nhà nước thu hồi, bà B2 đã chết. Gia đình đã được đền bù nhà trên đất của bà B2, còn số tiền đền bù đất ông G đã nhận hết. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu xác định di sản thừa kế và chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản bà Phạm Thị B2 để lại là: Số tiền 157.069.800 đồng là tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở có diện tích đất 85m² nằm trong thửa đất số 60, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính năm 2015.
Về di sản thừa kế bà Nguyễn Thị T4 để lại:
Khi còn sống, bà T4 và bà B2 cùng sinh sống trên căn nhà tại thửa đất số 60, tờ bản đồ số 2 bà B2 nhận chuyển nhượng với ông G bà M. Trong hộ khẩu của bà B2 chỉ có bà B2 và bà T4, khi nhà nước thu hồi có bà T4 vẫn còn sinh sống trên đất nên bà T4 sẽ thuộc đối tượng được cấp tái định cư. Bà T4 chết ngày 21/11/2018, không có chồng con, không có người thuộc hàng thừa kế thứ 1 nên cần chia di sản của bà T4 cho những người thuộc hàng thừa kế thứ 2 là ông T và các anh chị em ruột của bà T4.
Tại Quyết định số 3327/QĐ-UBND, Quyết định số 3328/QĐ- UBND, Quyết định số 3329/QĐ-UBND cùng ban hành ngày 20/10/2021 về việc giao quyền sử dụng đất ở đô thị của Ủy ban nhân dân thành phố C đều có nội dung: “Điều 1. Giao cho hộ gia đình ông/bà Hoàng Đức G (bao gồm các ông/bà: Hoàng Đức G, Nguyễn Thị M, Hoàng Thị H, Hoàng Minh T1, Hoàng Đức G1, Nguyễn Thị T4(đã chết) thường trú tại Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng 70.0m² đất tại Khu tái định cư Đ khu đô thị M để sử dụng vào mục đích đất ở đô thị.”. Do đó,
3
03 Quyết định nêu trên là căn cứ chứng minh bà T4 cũng là người có quyền sử dụng đất trong 03 lô đất được cấp tái định cư có tổng diện tích 210m² gồm Lô số 31, diện tích 70m²; Lô số 30, diện tích 70m² và Lô số 29, diện tích 70m² cùng thuộc dãy B2 – Mặt bằng điều chỉnh quy hoạch chi tiết khu tái định cư 1.
Do đó, ông khởi kiện yêu cầu xác định di sản thừa kế và chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản bà Nguyễn Thị T4 để lại là: Phần quyền sử dụng đất nằm trong 03 lô đất tái định cư có tổng diện tích 210m² được Ủy ban nhân dân thành phố C giao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Hoàng Đức G (bao gồm các ông/bà: Hoàng Đức G, Nguyễn Thị M, Hoàng Thị H, Hoàng Minh T1, Hoàng Đức G1, Nguyễn Thị T4) theo Quyết định số 3327/QĐ-UBND, Quyết định số 3328/QĐ- UBND, Quyết định số 3329/QĐ-UBND cùng ban hành ngày 20/10/2021, cụ thể 03 lô đất là Lô số 31, diện tích 70m²; Lô số 30, diện tích 70m² và Lô số 29, diện tích 70m² cùng thuộc dãy B2 – Mặt bằng điều chỉnh quy hoạch chi tiết khu tái định cư 1, có địa chỉ tại Khu tái định cư Đ khu đô thị M, tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hoàng Đức G trình bày:
Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì đối với diện tích 85m², căn cứ Công văn số 1435/HĐBT-GPMB ngày 05/8/2019 về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Nguyễn Văn T trú tại tổ A, phường H, thành phố C có nội dung 85m² đất chuyển nhượng giữa ông và bà B2 là không đúng quy định, xác định 85m² đất thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 02 là đất của ông G. Tại giấy tờ chuyển nhượng ngày 15/6/2004 giữa ông G và bà B2 có thể hiện diện tích 85m2, tuy nhiên thực tế ông chỉ chuyển nhượng cho bà B2 50m², còn 35m² ông cho thêm nhưng nay ông không cho nữa vì bà B2 chưa làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa đất của gia đình ông có nguồn gốc do ông nhận chuyển nhượng với ông Nguyễn Tiến T6 và bà Nguyễn Thị T7, hiện nay thửa đất đã bị thu hồi hết để làm đường V.
Đối với di sản của bà B2: Ông cho rằng di sản của bà B2 là số tiền bồi thường của 50m² đất, số tiền này ông đã được nhà nước bồi thường nên sẽ có trách nhiệm trả lại cho những người thừa kế của bà B2.
Giá trị của 50m² đất theo giá nhà nước được ban hành theo Quyết định số 1694/QĐ-UBND ngày 28/5/2019 về việc Phê duyệt điều chỉnh phương án và dự toán bồi thường, hỗ trợ tái định cư của hộ gia đình ông Hoàng Đức G thuộc hạng mục: Đoạn từ đầu cầu S đến hồ L (đợt 2 năm 2018) dự án: bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đường phía Nam khi đô thị mới thành phố C kèm theo Bảng điều chỉnh phương án và dự toán bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Cụ thể: 50m² x 1.593.000đ/m x 1.16 = 92.394.000 đồng.
Đối với di sản của bà T4 ông không nhất trí theo yêu cầu của nguyên đơn vì bà T4 bị tâm thần phân liệt từ nhỏ nên bà B2 nuôi, bà T4 không gây dựng di sản
4
nào trên đất mà chỉ ở nhờ trên đất cùng với bà B2, sau khi bà B2 chết, bà T4 được đưa vào Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh C. Khi bà T4 chết, không có chồng con.
Tại Công văn số 1435/HĐBT-GPMB ngày 05/8/2019 về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Nguyễn Văn T trú tại tổ A, phường H, thành phố C có nội dung: Trong hộ khẩu bà Nguyễn Thị T4 cũng không còn ai nên theo quy định nhà nước không thể cấp tái định cư cho người chết hay cấp tái định cư cho hộ gia đình không còn người sống.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Ngày 04/01/2003 bà Phạm Thị B1 đã triệu tập các con gái, con trai, con dâu, con rể để chia cho các con tiền bán đất do ông cha để lại là: 306.000.000 đồng, có để lại 100.000.000 đồng gửi vào ngân hàng lấy tiền lãi nuôi bà Nguyễn Thị T4 vì bà T4 bị tâm thần phân liệt từ nhỏ (không biết làm gì). Sau đó vì không có nhà ở nên vợ chồng bà đã chuyển nhượng cho bà B2 một ngôi nhà có diện tích 31m² và 50m² đất (10m x 5m = 50m²). Vì là mẹ con nên không có giấy tờ mua bán hay chuyển nhượng gì cả.
Khi bà B2 sống với vợ chồng bà không có chuyện gì xảy ra cho đến lúc chết cũng không có di chúc gì để lại. Đồng nghĩa là tài sản và nhà cửa đất đai của bà B2 thì bà T4 phải được hưởng.
Đầu năm 2018 nhà nước giải phóng mặt bằng thì bà T4 kê khai tài sản đất đai, nhà nước bồi thường tiền nhà (31m²) là: 111.747.506 đồng và bà Phạm Thị N đã lĩnh dự án bồi thường tái định cư thành phố C.
Đến ngày 08/5/2018 bà Phạm Thị B2 chết vì già yếu. Khi bà B2 chết không ai chịu trách nhiệm nuôi bà Nguyễn Thị T4, phải cho bà T4 vào Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh C nuôi dưỡng.
Do bà T4 bị tâm thần từ bé, bà B2 phải nuôi từ nhỏ tới lớn, không gây dựng nên di sản gì nên không thể có tài sản gì để chia, ngoài ra, bà B2 trước khi chết đã chia thừa kế cho các con nên yêu cầu khởi kiện của ông T bà không nhất trí.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Hoàng Thị H, ông Hoàng Đức G1 trình bày:
Gia đình có họp và đồng ý cho bà ngoại là bà Phạm Thị B1 lên ở ngôi nhà mà ông G bà M bán cho bà ngoại có diện tích 31m², cả đất sau trước là: 10m x 5m = 50m². Bà Nguyễn Thị T4 do bị tâm thần phân liệt từ nhỏ (không biết làm gì) nên phải ở cùng với bà ngoại.
Khi bà ngoại còn sống ở cạnh nhà với ông G bà M không thấy có chuyện gì xảy ra, lúc nhà cửa của bà B2 có cần sữa chữa gì thì không thấy mặt ông T và các con của bà B2 đâu, chỉ thấy con rể là ông G giúp sữa chữa. Còn bà Nguyễn Thị T4 do tâm thần không ổn định, lúc vui vẻ thì không sao, lúc lên cơn thần kinh thì chửi bới cả ngày đêm.
5
Đầu năm 2018 nhà nước giải phóng mặt bằng thì bà T4 kê khai tài sản đất đai, nhà nước bồi thường tiền nhà 31m² trị giá là: 111.747.506 đồng và bà Phạm Thị N đã lĩnh tại hội trường dự án bồi thường tái định cư thành phố C.
Đến ngày 08/5/2018 bà ngoại Phạm Thị B2 chết. Khi bà B2 chết không ai chịu trách nhiệm nuôi bà Nguyễn Thị T4 và các con của bà B2 phải cho bà T4 vào Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh C.
Bà T4 bị tâm thần phân liệt từ bé không làm được công việc gì, bà ngoại phải nuôi từ bé đến khi bà ngoại chết, vì vậy bà T4 không có tài sản, di sản nào để chia.
Tại bản tự khai đề ngày 11/11/2023, bị đơn ông Hoàng Minh T1 có ý kiến không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Công văn số 1276/UBND-TNMT ngày 06/6/2024 Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng cho biết:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 899335, CY 899336, CY 899337 do Ủy ban nhân dân thành phố C ngày 19/01/2022 đối với các lô đất số 29, 30, 31, tờ bản đồ số MB- TĐC 1 được cấp đúng quy định của pháp luật.
Ngày 05/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với Lô đất số 29, 30, 31. Kết quả như sau:
Lô đất số 29 có tứ cận tiếp giáp như sau:
- Phía Đông giáp kè xây;
- Phía Tây giáp đường;
- Phía Bắc giáp đất bà Lưu Thị L;
- Phía Nam giáp lô đất số 30.
Lô đất số 30 có tứ cận tiếp giáp:
- Phía Đông giáp kè xây;
- Phía Tây giáp đường;
- Phía Bắc giáp lô đất số 29;
- Phía Nam giáp lô đất số 31.
Lô đất số 31 có tứ cận tiếp giáp:
- Phía Đông giáp kè xây;
- Phía Tây giáp đường;
- Phía Bắc giáp lô đất số 30;
- Phía Nam giáp khu cây xanh.
Tài sản trên các phần đất tranh chấp: không có.
6
Ngày 31/5/2024, Hội đồng định giá tài sản do Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng thành lập đã tiến hành định giá tài sản. Kết quả như sau:
Tại buổi định giá tài sản, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giá trị tài sản tranh chấp, không có đề nghị lựa chọn tổ chức có chức năng định giá, đề nghị Hội đồng định giá tiến hành định giá theo quy định pháp luật.
Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, sơ đồ đo vẽ: Các đương sự có mặt tại buổi định giá tài sản không có ý kiến gì, nhất trí với kết quả, sơ đồ đo vẽ của cơ quan chuyên môn và không có ý kiến gì bổ sung.
Ý kiến của các thành viên của Hội đồng định giá tài sản:
+ Căn cứ Quyết định số 28/2021/QĐ-UBND ngày 15/10/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh C ban hành quy định bảng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
+ Căn cứ Quyết định số 30/2023/QĐ-UBND ngày 21/12/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh C quy định về hệ số điều chỉnh giá đất năm 2024.
* Đối với Lô đất số 29, thuộc dãy B2- Mặt bằng điều chỉnh quy hoạch chi tiết khu tái định cư 1; địa chỉ: Khu tái định cư Đ khu đô thị M, tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, diện tích 70 m2, thuộc vị trí II, đường loại IV (đoạn đường phía Nam khu đô thị M (đường 58m - nay là đường V) đến điểm vuốt nối với đường liên tổ 13 - 29 hiện nay (thuộc tổ H - 16 mới sau khi sáp nhập tổ dân phố) giá: 7.241.000 đồng/m²; hệ số 1,2.
Giá trị: 70 m² x 7.241.000 đồng x 1,2 = 608.244.000 đồng.
* Đối với Lô đất số 30, thuộc dãy B2- Mặt bằng điều chỉnh quy hoạch chi tiết khu tái định cư 1; địa chỉ: Khu tái định cư Đ khu đô thị M, tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, diện tích 70 m², thuộc vị trí II, đường loại IV (đoạn đường phía Nam khu đô thị M (đường 58m-nay là đường V) đến điểm vuốt nối với đường liên tổ 13 - 29 hiện nay (thuộc tổ H - 16 mới sau khi sáp nhập tổ dân phố) giá: 7.241.000 đồng/m²; hệ số 1,2
Giá trị: 70 m² x 7.241.000 đồng x 1,2 = 608.244.000 đồng.
* Đối với Lô đất số 31, thuộc dãy B2- Mặt bằng điều chỉnh quy hoạch chi tiết khu tái định cư 1; địa chỉ: Khu tái định cư Đ khu đô thị M, tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, diện tích 70 m², thuộc vị trí II, đường loại IV (đoạn đường phía Nam khu đô thị M (đường 58m-nay là đường V) đến điểm vuốt nối với đường liên tổ 13 - 29 hiện nay (thuộc tổ H - 16 mới sau khi sáp nhập tổ dân phố) giá: 7.241.000 đồng/m²; hệ số 1,2
Giá trị: 70 m² x 7.241.000 đồng x 1,2 = 608.244.000 đồng.
Tổng giá trị của cả 3 lô đất trên: 1.824.732.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông đề nghị chia di sản thừa kế của bà T4 bằng hiện vật là lô đất số 31 để những người thừa kế thờ cúng bà B2 và bà T4. Bà Nguyễn Thị M nhất trí nhận di sản của bà T4 bằng tiền.
7
Ông Hoàng Đức G cho rằng ông đã bỏ tiền ra nộp ngân sách nhà nước để được cấp 03 lô tái định cư nên ông đề nghị những người thừa kế của bà T4 phải trả lại cho ông số tiền này trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thị M đề nghị chia thừa kế tiền đền bù nhà của bà B2 và tiền gửi ngân hàng để nuôi bà B2 mà bà Phạm Thị N đang giữ.
Các bên đương sự thống nhất giá trị 01 lô đất khu tái định cư là 1.600.000.000đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng).
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đã quyết định:
- Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 609; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 649; Điều 650; Điều 651, khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26, Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu chia thừa kế di sản của bà Phạm Thị B2 theo pháp luật.
Xác định di sản thừa kế của bà Phạm Thị B2 là số siền 157.069.800 đồng (Bằng chữ: một trăm năm mươi bảy triệu không trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm đồng) tiền bồi thường diện tích đất 85m² thuộc một phần thửa đất số 60, tờ bản đồ số 02, có địa chỉ tại tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của bà Phạm Thị B2 gồm: bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5.
Xác định thời điểm mở thừa kế của bà Phạm Thị B2 là ngày 08/5/2018.
Các đương sự được chia thừa kế như sau: bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 mỗi người được chia số tiền là: 22.438.542,9 đồng (Bằng chữ: hai mươi hai triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn năm trăm bốn mươi hai phẩy chín đồng).
Bà Nguyễn Thị T4 nhận thừa kế của bà Phạm Thị B2 nhưng đến ngày 21 tháng 11 năm 2018 chết nên phần bà T4 được hưởng được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Nguyễn Thị T4 gồm: bà Nguyễn Thị M, ông
8
Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, ông Nguyễn Văn T5, mỗi người được chia số tiền là: 3.739.757,14 đồng .
Ông Nguyễn Văn T5 chết năm 2021 nên kỷ phần ông Nguyễn Văn T5 được hưởng thừa kế của bà Phạm Thị B2 và bà Nguyễn Thị T4 được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn T5 gồm: bà Phạm Thị N và 02 con là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V, mỗi người được chia số tiền là: 8.726.100,01 đồng;
Xác nhận ông Hoàng Đức G đang quản lý số tiền 157.069.800 đồng nên ông G có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3 mỗi người số tiền là 26.178.300,04 đồng; Trả lại cho bà Phạm Thị N, ông Nguyễn Đại P, bà Nguyễn Thị Hồng V mỗi người số tiền là 8.726.100,01 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu chia thừa kế di sản của bà Nguyễn Thị T4 theo pháp luật.
Xác định di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị T4 là 46.6666667 m² nằm trong 210 m² của 03 lô đất tái định cư (Lô B, 30, 31 dãy B2, tờ bản đồ số MB_TĐC 1; địa chỉ: Mặt bằng điều chỉnh quy hoạch chi tiết Khu tái định cư đường phía nam khu đô thị mới tại phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (lần 2), đã được Ủy ban nhân dân thành phố C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 899335, CY 899336, CY 899337 ngày 19/01/2022), có giá trị là: 1.066.666.667 đồng. (Bằng chữ: Một tỷ không trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị T4 gồm: bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, ông Nguyễn Văn T5.
Xác định thời điểm mở thừa kế bà Nguyễn Thị T4 là ngày 21/11/2018.
Các đương sự được chia thừa kế như sau: Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, ông Nguyễn Văn T5 mỗi người được một kỷ phần di sản của bà Nguyễn Thị T4 tương ứng với số tiền là: 177.777.778 đồng.
Ông Nguyễn Văn T5 chết năm 2021 nên kỷ phần ông T5 được hưởng thừa kế của bà T4 được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T5 gồm: bà Phạm Thị N và 02 con là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V, mỗi người được hưởng 01 kỷ phần có giá trị là: 59.259.259,3 đồng.
Chia Lô 29, dãy B2, tờ bản đồ số MB-TĐC 1, địa chỉ: Mặt bằng điều chỉnh quy hoạch chi tiết Khu tái định cư đường phía nam khu đô thị mới tại phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (lần 2), diện tích 70m², đã được Ủy ban nhân dân thành phố C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 899335 ngày 19/01/2022, có giá trị là 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng) cho ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà
9
Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, bà Phạm Thị N, ông Nguyễn Đại P, bà Nguyễn Thị Hồng V quản lý, sử dụng.
Ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, mỗi người phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị M số tiền là: 35.555.555,6 đồng.
Bà Phạm Thị N, ông Nguyễn Đại P, bà Nguyễn Thị Hồng V, mỗi người phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị M số tiền là 11.851.851,9 đồng.
Ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3 mỗi người có nghĩa vụ thanh toán số tiền chênh lệch tài sản cho ông Hoàng Đức G, bà Nguyễn Thị M, bà Hoàng Thị H, ông Hoàng Minh T1, ông Hoàng Đức G1 là 106.666.667 đồng.
Bà Phạm Thị N, ông Nguyễn Đại P và bà Nguyễn Thị Hồng V mỗi người có trách nhiệm thanh toán số tiền chênh lệch tài sản cho ông Hoàng Đức G, bà Nguyễn Thị M, bà Hoàng Thị H, ông Hoàng Minh T1, ông Hoàng Đức G1 là: 35.555.555,7 đồng.
Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho ông Hoàng Đức G số tiền đất sử dụng đất ông G đã nộp ngân sách nhà nước là: 39.666.666,7 đồng;
Bà Phạm Thị N, ông Nguyễn Đại P, bà Nguyễn Thị Hồng V mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho ông Hoàng Đức G số tiền đất sử dụng đất ông Hoàng Đức G đã nộp ngân sách nhà nước là 13.222.222,2 đồng.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để hoàn thiện thủ tục đăng ký biến động đất đai theo quy định của pháp luật. (có sơ đồ kèm theo).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần chi chí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; về nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngày 10/9/2024 bị đơn Hoàng Đức G và Nguyễn Thị M kháng cáo một phần bản án sơ thẩm theo hướng: Xác định di sản thừa kế của bà B2 là 50m² ; Bác một phần yêu cầu khởi kiện chia thừa kế 35m²; không chấp nhận chia 157.069.800 đồng như phán quyết của cấp sơ thẩm; Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm việc chia di sản thừa kế với diện tích 50m², không phải 85m²; Bà T4 đã chết trước khi hình thành thửa đất số 29 nên không được chia thừa kế.
Ngày 13/9/2024, nguyên đơn Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo hướng chấp nhận di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị T4 để lại là 01 lô đất tái định cư (lô số 29) và không buộc các người thừa kế của bà T4 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông G, bà M, bà H, ông G1, ông T1 số tiền 533.333.333đ để được nhận lô đất tái định cư số 29.
10
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Nguyễn Văn T và bị đơn Hoàng Đức G, Nguyễn Thị M1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Bản án sơ thẩm đã xác định di sản của bà T4 là 1/3 của 02 lô tái định cư, tương đương diện tích 46,67m², có giá trị 1.066.666,67 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, phần diện tích đất là di sản của bà T4 gần bằng diện tích 1 lô tái định cư, nguyên đơn ông T có nguyện vọng muốn nhận phần đất để thờ cúng bà B2 và bà T4, do đó, Tòa án đã tuyên những người thừa kế của bà T4 được quyền quản lý, sử dụng 01 lô tái định cư (lô số 29) và có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho ông G, bà M, bà H, ông G1, ông T1 số tiền là 533.333.333 đồng là phù hợp.
Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đã xác định đúng di sản thừa kế của bà Phạm Thị B2, bà Nguyễn Thị T4; xác định đúng hàng thừa kế của bà Phạm Thị B2, bà Nguyễn Thị T4; chia thừa kế phù hợp, đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Các yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bị đơn ông Hoàng Đức G, bà Nguyễn Thị M là không có căn cứ, không có cơ sở để chấp nhận.
Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 131 BLDS năm 1995; Điều 609; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 649; Điều 650; Điều 651, khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; điểm a khoản 2 Điều 20 Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh C ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, ông Hoàng Đức G, bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Họi đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Sau khi xem xét nội dung đơn kháng cáo, các tài liệu chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định
11
thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp về chia di sản thừa kế, thu thập và giao nộp chứng cứ, thẩm định, định giá tài sản, hòa giải, trình tự và thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nộp trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm là đúng quy định.
[2] Về nội dung:
2.1. Về thủ tục tố tụng:
Tại thời điểm ông Nguyễn Văn T khởi kiện, các bị đơn đều đăng ký thường trú tại phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng và các thửa đất nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế đều có địa chỉ tại tổ I, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Do đó, theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
2.2 Xác định di sản của bà B2.
Nguyên đơn ông T đề nghị xác định di sản của bà B2 là tiền đền bù 85m² đất, còn bị đơn ông G không nhất trí vì cho rằng vợ chồng ông chỉ chuyển nhượng cho bà B2 50m², còn 35m² là tặng cho thêm, nhưng nay không cho nữa.
Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều xác nhận năm 2003 bà B2 nhận chuyển nhượng đất với vợ chồng ông G bà M. Mặc dù tại Biên bản họp gia đình ngày 04/01/2003 thể hiện diện tích đất bà B2 nhận chuyển nhượng là 50m², tuy nhiên tại Biên bản họp gia đình ngày 15/6/2004 và Đơn xin sang tên quyền sử dụng đất lập ngày 25/11/2007 đều thể hiện diện tích đất bà B2 được quản lý sử dụng là 85m², các văn bản này có chữ ký của người chuyển nhượng là ông G và bà M, người nhận chuyển nhượng là bà B2, có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Như vậy, khi ông G và bà M ký tên vào các văn bản này đã thừa nhận diện tích đất sang tên cho bà B2 là 85m², do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định di sản của bà B2 là tiền đền bù 85m² đất thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 2 (bản đồ địa chính 2015), diện tích đất này đã bị thu hồi để làm đường V. Do ông G là người nhận số tiền đền bù đối với 85m² này nên cần buộc ông G trả lại cho những người thuộc diện và hàng thừa kế của bà B2.
Theo Quyết định số 1694/QĐ-UBND ngày 28/5/2019 về việc Phê duyệt điều chỉnh phương án và dự toán bồi bồi thường, hỗ trợ tái định cư của hộ gia đình ông Hoàng Đức G thuộc hạng mục: Đoạn từ đầu cầu S đến hồ L (đợt 2 năm 2018) dự án: bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đường phía Nam khi đô thị mới thành phố C kèm theo Bảng điều chỉnh phương án và dự toán bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giá 1m² đất là 1.593.000 đồng. Do đó, 85m² đất có giá trị là: 85m² x 1.593.000đ/m x 1.16 = 157.069.800 đồng được xác định là di sản thừa kế.
2.3. Xác định hàng thừa kế và diện thừa kế.
Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều thừa nhận ông Nguyễn Văn T3 (sinh năm 1921, chết năm 1979) và bà Phạm Thị B2 (sinh năm 1923, chết năm 2018) có 07 người con chung, gồm: bà Nguyễn Thị M; ông Nguyễn Văn B; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị H3; bà Nguyễn Thị T4 (sinh năm
12
1960, chết năm 2018) không có chồng, con; ông Nguyễn Văn T5 (sinh năm 1947, chết năm 2021) có vợ là bà Phạm Thị N và có 02 con chung là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V.
Bà Phạm Thị B2 chết ngày 08 tháng 5 năm 2018, tại thời điểm bà B2 chết (thời điểm mở thừa kế), bố mẹ bà B2, chồng bà B2 đã chết, chỉ còn 07 người con còn sống nên di sản của bà B2 được chia thành 07 phần, cho 07 người con gồm: Nguyễn Thị M; Nguyễn Văn B; Nguyễn Văn T; Nguyễn Thị H2; Nguyễn Thị H3; Nguyễn Thị T4; Nguyễn Văn T5, mỗi người được hưởng số tiền là: 157.069.800 đồng : 7 = 22.438.542,9 đồng.
Bà Nguyễn Thị T4 nhận thừa kế của bà Phạm Thị B2 nhưng đến ngày 21/11/2018 chết nên phần bà T4 được hưởng sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà T4 (do bà T4 không có chồng, con) gồm: Nguyễn Thị M; Nguyễn Văn B; Nguyễn Văn T; Nguyễn Thị H2; Nguyễn Thị H3; Nguyễn Văn T5, mỗi người được hưởng số tiền là: 22.438.542,9 đồng : 6 = 3.739.757,14 đồng.
Ông Nguyễn Văn T5 chết năm 2021 nên kỷ phần ông T5 được hưởng thừa kế của bà B2 và bà T4 sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T5 gồm: vợ là bà Phạm Thị N và 02 con là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V, mỗi người được chia số tiền là: (22.438.542,9 đồng + 3.739.757,14 đồng) : 3 = 8.726.100,01 đồng.
Như vậy, số tiền ông Hoàng Đức G có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị M; ông Nguyễn Văn B; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị H3; ông Nguyễn Văn T5 (phần của ông T5 do bà Phạm Thị N và 02 con là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V nhận), mỗi người số tiền là: 22.438.542,9đồng + 3.739.757,14 đồng = 26.178.300,04 đồng.
2.4. Xác định di sản của bà Nguyễn Thị T4.
Khi còn sống, do bà T4 không có chồng, con nên bà T4 ở cùng bà B2 trong căn nhà và đất bà B2 nhận chuyển nhượng của ông G bà M, thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 2, trong sổ hộ khẩu chỉ có tên bà B2 và bà T4.
Năm 2018 khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đường phía Nam khu đô thị mới (đường 58m) hạng mục đoạn từ đầu cầu S đến hồ L, tại Biên bản kiểm kê (đợt 2/2018) đất đai, tài sản, hoa màu bị thiệt hại ngày 24/8/2018 có sự tham gia của ông Hoàng Đức G là đại diện hộ gia đình có đất thu hồi, thể hiện diện tích đất bị thu hồi gồm 7 thửa đất trong đó có thửa đất số 60, tờ bản đồ số 2. Tại Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất ngày 13/9/2018 có sự tham gia của ông Hoàng Đức G, các thửa đất có nguồn gốc như sau: “năm 1987 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Tiến T6 sử dụng ổn định đến năm 2007 cho tặng: thửa số 60 em dì là bà Nguyễn Thị T4, thửa số 61 cho con trai Hoàng Đức G1, thửa 59 cho con gái Hoàng Thị H sử dụng ổn định đến nay”. Đồng thời, tại các Biểu xác nhận nhân khẩu của Ủy ban nhân dân phường S lập ngày 14/8/2018 thể hiện 4 hộ gia đình gồm:
13
- Hộ gia đình Hoàng Thị H, gồm có bà Hoàng Thị H, ông Hoàng Minh K, ông Hoàng Minh T1.
- Hộ gia đình Hoàng Đức G1 gồm có ông Hoàng Đức G1.
- Hộ gia đình Nguyễn Thị M có bà Nguyễn Thị M và ông Hoàng Đức G.
- Hộ gia đình Nguyễn Thị T4 có bà Nguyễn Thị T4.
Ngày 23/8/2019 Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành công văn số 1565/UBND-QĐMB gửi Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc thống nhất chủ trương về xét cấp đất tái định cư đối với một số trường hợp thuộc dự án bồi thường, hỗ trợ tái định cư đường phía Nam, trong đó có cụm hộ gia đình ông Hoàng Đức G bị thu hồi 1.041,0m² đất, có 400m² đất ở đô thị, 641,0 m2 đất trồng cây hằng năm. Trong cụm hộ gia đình ông Hoàng Đức G có hộ Hoàng Đức G1, hộ Hoàng Thị H, hộ Nguyễn Thị T4 đều không đủ điều kiện cấp 01 lô tái định cư, do đó Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư thành phố C đề xuất phương án cấp 01 lô tái định cư có diện tích bằng 03 lô tái định cư theo quy định (5x14)m² cho cụm hộ gia đình.
Tại Quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 25/10/2019 Ủy ban nhân dân tỉnh C phê duyệt hỗ trợ tái định cư đối với các trường hợp khác khi nhà nước thu hồi đất, trong đó có Cụm hộ gia đình ông Hoàng Đức G, được cấp 01 lô tái định cư có diện tích tối đa bằng 03 lô tái định cư theo quy hoạch, diện tích một lô tái định cư theo quy hoạch (5x14)m².
Đến ngày 24/12/2019 Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 4709/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh phương án và dự toán bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của hộ gia đình ông (bà) Hoàng Đức G với nội dung đối tượng được giao 01 lô đất tái định cư là Cụm hộ gia đình ông Hoàng Đức G, diện tích bằng 03 lô tái định cư theo quy hoạch, diện tích một lô tái định cư theo quy hoạch bằng (5x14)m².
Đến ngày 20/11/2021 Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 3327, 3328, 3329 giao cho hộ gia đình ông Hoàng Đức G (bao gồm các ông bà Hoàng Đức G, Nguyễn Thị M, Hoàng Thị H, Hoàng Minh T1, Hoàng Đức G1, Nguyễn Thị T4 (đã chết) lô đất số 31, 30, 29, mỗi lô có diện tích 70m2 tại Khu tái định cư Đ khu đô thị M, thành phố C để sử dụng vào mục đích đất ở đô thị, hình thức giao đất: Giao đất có thu tiền sử dụng đất, giá đất tính thu tiền sử dụng đất 5.100.000 đồng/1m².
Sau đó, ông Hoàng Đức G đã thực hiện nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất với nhà nước, với số tiền mỗi lô đất là 70m² x 5.100.000₫ = 357.000.000 đồng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 03 lô đât số 29, 30, 31 mang tên Hộ ông Hoàng Đức G bao gồm các ông bà: Hoàng Đức G, Nguyễn Thị M, Hoàng Thị H, Hoàng Minh T1, Hoàng Đức G1, Nguyễn Thị T4 (đã chết).
Như vậy, trong cả quá trình từ khi kiểm đếm cho đến khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Hoàng Đức G đều không có ý kiến về việc có tên bà Nguyễn Thị T4 trong các quyết định giao đất cũng như khi tiến hành kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
14
Hội đồng xét xử xét thấy việc cụm hộ gia đình ông Hoàng Đức G được cấp 01 lô tái định cư có diện tích bằng 03 lô tái định cư theo quy hoạch là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và điểm a khoản 2 Điều 20 Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh C, 01 lô tái định cư có diện tích bằng 03 lô tái định cư được giao cho 4 hộ gia đình trong Cụm hộ gia đình ông Hoàng Đức G, do đó, ý kiến của nguyên đơn cho rằng hộ bà Nguyễn Thị T4 được hưởng 01 lô trong 03 lô là không có căn cứ để chấp nhận vì theo Quyết định số 690/QĐ-UBND ngày 15/3/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C xác định hộ bà Nguyễn Thị T4 không đủ điều kiện để cấp 01 lô tái định cư, còn ý kiến của gia đình ông Hoàng Đức G cho rằng hộ bà Nguyễn Thị T4 không có quyền lợi trong diện tích đất tái định cư được cấp cũng không phù hợp, bởi lẽ nếu không tính hộ bà Nguyễn Thị T4 thì còn 03 hộ gia đình được hưởng 01 lô tái định cư có diện tích bằng 03 lô tái định cư tương ứng mỗi hộ được hưởng 01 lô tái định cư, trong khi hộ ông Hoàng Đức G1 và hộ bà Hoàng Thị H đều không đủ điều kiện để được cấp 01 lô tái định cư.
Xét thấy hộ gia đình bà Nguyễn Thị T4 gồm có bà Nguyễn Thị T4, bà Phạm Thị B2, ngày 08/5/2018 bà B2 chết thì hộ gia đình chỉ còn lại bà Nguyễn Thị T4, trong số diện tích đất ở bị thu hồi của cụm hộ gia đình ông Hoàng Đức G là 400m² có 85m² đất của bà Phạm Thị B2, khi bà B2 chết diện tích đất này sẽ thuộc quyền quản lý, sử dụng của các con bà B2, trong đó có bà Nguyễn Thị T4. Khi nhà nước tiến hành kiểm đếm bà T4 vẫn còn sống và được xác định là 01 hộ gia đình độc lập trong cụm hộ gia đình ông Hoàng Đức G, do đó, cần xác định hộ ông G bà M đủ điều kiện được cấp 01 lô tái định cư, 2 lô tái định cư còn lại thuộc quyền quản lý sử dụng chung của hộ gia đình ông G1, hộ gia đình bà H và hộ gia đình bà T4. Di sản của bà Nguyễn Thị T4 được xác định là 1/3 của 02 lô tái định cư, tương ứng với diện tích 46.6666667 m², có giá trị là: 1.066.666.667 đồng (giá trị 01 lô đất theo các bên đương sự thoả thuận thống nhất là 1.600.000.000 đồng).
Do nguyên đơn có nguyện vọng muốn nhận phần đất để thờ cúng bà B2 và bà T4, đồng thời di sản của bà T4 có diện tích lớn hơn diện tích của ½ lô đất nên cần giao cho những người thừa kế của bà T4 01 lô đất tái định cư có diện tích 70m², có giá trị là 1.600.000 đồng. Những người thuộc hàng thừa kế của bà T4 có nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho ông G, bà M, bà H, ông G1, ông T1 số tiền là: 533.333.333 đồng.
Đối với đề nghị của nguyên đơn về việc được chia lô đất số 31: xét thấy lô đất số 31 là lô đất có vị trí đẹp nhất (có 02 mặt tiền) nên cần ưu tiên cho gia đình ông G quản lý sử dụng vì gia đình ông G bị thu hồi đất ở nhiều hơn, chia cho những người thừa kế của bà T4 lô đất số 29 là phù hợp.
2.5. Chia thừa kế di sản của bà Nguyễn Thị T4.
Tổng giá trị di sản của bà T4 là 1.066.666.667 đồng. Bà T4 chết không để lại di chúc nên phần di sản của bà T4 được chia theo pháp luật.
15
Thời điểm mở thừa kế của bà T4 là ngày 08 tháng 5 năm 2018. Tại thời điểm mở thừa kế bố mẹ bà T4 đã chết trước đó, bà T4 không có chồng con, do đó, hàng thừa kế thứ 2 của bà T4 gồm: bà Nguyễn Thị M; ông Nguyễn Văn B; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị H3; ông Nguyễn Văn T5 mỗi người được hưởng 01 kỷ phần có giá trị là: 177.777.778 đồng.
Ông Nguyễn Văn T5 chết năm 2021 nên kỷ phần ông T5 được hưởng thừa kế của bà T4 sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T5 gồm: bà Phạm Thị N và 02 con là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V, mỗi người được hưởng 01 kỷ phần có giá trị là: 177.777.778 đồng : 3 = 59.259.259.3 đồng.
Những người thừa kế của bà T4 đề nghị được chia thừa kế bằng hiện vật (sử dụng chung lô đất), riêng bà M nhất trí nhận bằng tiền, do đó ông Nguyễn Văn B; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị H3; ông Nguyễn Văn T5 mỗi người phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền là: 177.777.778 đồng : 5 = 35.555.555,6 đồng.
Ông Nguyễn Văn T5 đã chết nên bà Phạm Thị N và 02 con là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V, mỗi người phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền là: 35.555.555,6 đồng : 3 = 11.851.851,9 đồng.
2.6. Xét ý kiến của ông Hoàng Đức G về việc yêu cầu trả lại tiền sử dụng đất ông G đã nộp cho nhà nước khi nhận đất tái định cư
Đây là số tiền ông G đã nộp ngân sách để đủ điều kiện được nhận đất là di sản thừa kế, những người thừa kế của bà T4 cũng nhất trí với yêu cầu của ông G, nên khi giải quyết yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu của ông G có có căn cứ nên cần chấp nhận.
Ông Hoàng Đức G đã bỏ ra số tiền 357.000.000 đồng để được nhận lô đất số 29 có diện tích 70m², di sản của bà T4 có diện tích 46.6666667m² nên những người hưởng di sản của bà T4 gồm: bà Nguyễn Thị M; ông Nguyễn Văn B; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị H3; ông Nguyễn Văn T5 có trách nhiệm thanh toán cho ông G số tiền là 238.000.000 đồng, mỗi người phải thanh toán số tiền là 39.666.666.7 đồng.
Ông Nguyễn Văn T5 chết năm 2021 nên bà Phạm Thị N và 02 con là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V mỗi người có trách nhiệm trả lại cho ông G số tiền là: 39.666.666.7 đồng : 3 = 13.222.222.2 đồng.
Như vậy, cần chia lô đất số 29 cho ông Nguyễn Văn B; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị H3; bà Phạm Thị N; ông Nguyễn Đại P; bà Nguyễn Thị Hồng V quản lý sử dụng.
Bà Nguyễn Thị M; ông Nguyễn Văn B; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị H3; ông Nguyễn Văn T5 (phần ông T5 do bà N, ông P, bà V chịu) có trách nhiệm thanh toán cho ông Hoàng Đức G số tiền sử dụng đất ông G đã nộp ngân sách nhà nước tương ứng với 46.6666667 m² là 238.000.000 đồng, mỗi
16
người phải thanh toán cho ông G số tiền là: 238.000.000 đồng: 6 = 39.666.666.7 đồng.
Ông Nguyễn Văn B; ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H2; bà Nguyễn Thị H3; ông Nguyễn Văn T5 có trách nhiệm thanh toán cho ông G, bà M, bà H, ông G1, ông T1 số tiền chênh lệch tài sản khi nhận lô đất số 29 là: 533.333.333 đồng : 5 = 106.666.667 đồng.
Ông Nguyễn Văn T5 chết năm 2021 nên bà Phạm Thị N và 02 con là Nguyễn Đại P và Nguyễn Thị Hồng V mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho ông G, bà M, bà H, ông G1, ông T1 số tiền là: 106.666.667 đồng : 3 = 35.555.555,7 đồng.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn:
Bị đơn Hoàng Đức G và Nguyễn Thị M kháng cáo một phần bản án sơ thẩm: xác định di sản thừa kế của bà B2 là 50m²; Bác một phần yêu cầu khởi kiện chia thừa kế 35m² ; không chấp nhận chia 157.069.800đ như phán quyết của cấp sơ thẩm; Bà T4 đã chết trước khi hình thành thửa đất số 29 nên không được chia thừa kế.
Nguyên đơn Nguyễn Văn T đề nghị sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị T4 để lại là 01 lô đất tái định cư (lô số 29) và không buộc các người thừa kế của bà T4 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông G, bà M, bà H, ông G1, ông T1 số tiền 533.333.333 đồng để được nhận lô đất tái định cư số 29.
Hội đồng xét xử thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ việc phân chia di sản thừa kế và diện thừa kế tài sản là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, do đó không chấp nhận kháng cáo của cả nguyên đơn và bị đơn, cần giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tại phiên toà phúc thẩm đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn T và bị đơn Hoàng Đức G, Nguyễn Thị M, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm:
Do kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn T và bị đơn Hoàng Đức G, Nguyễn Thị M không được Tòa án chấp nhận, tuy nhiên các đương sự kháng cáo đều là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn T và bị đơn Hoàng Đức G,
17
Nguyễn Thị M. Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
2. Về án phí:
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn Nguyễn Văn T, bị đơn Hoàng Đức G, Nguyễn Thị M đều là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Thụ |
18
Bản án số 18/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 18/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
