Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 18/2025/DS-PT

Ngày: 19 - 02 - 2025

V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Ngọc

Ông Nguyễn Anh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang; Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2024/TLPT - DS ngày 05 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp thừa kế tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐPT-DS ngày 08/01/2025 và quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QĐPT-DS ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1952; Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt). Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1960; Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Bá P, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Bá H, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: 102 tổ A, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Ông Trần Bá H2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Bà Trần Thị T, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Văng mặt.
  5. Bà Trần Thị K, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  6. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Văng mặt.
  7. Bà Mai Thị T1, sinh năm 1974 (vợ ông P); Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

* Người kháng cáo: Ông Trần Bá P, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Là: Bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện để ngày 06 tháng 10 năm 2022, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 01 tháng 12 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị N, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hoàng Thị N1 thống nhất trình bày: ông Trần Bá T2 (sinh năm 1921, chết ngày 10/10/1990) và bà Nguyễn Thị T3 (sinh năm 1922, chết ngày 20/01/2015) là vợ chồng, có 05 người con chung, gồm Trần Văn T4 (sinh năm 1952, liệt sĩ, hy sinh năm 1974, không có vợ con), Trần Bá H3 (sinh năm 1959, chết năm 1979, không có vợ con), Trần Thị T, Trần Thị K, Trần Thị Đ. Năm 1980, ông T2 cưới bà Trần Thị N, ông T2 và bà N có 04 người con chung, gồm Trần Bá P, Trần Bá H, Trần Thị H1 và Trần Bá H2. Sau khi ông T2, bà N chung sống với nhau. Bà T3 làm ăn riêng. Năm 1982, ông T2 và bà T3 thống nhất thửa đất ở, đất vườn của ông T2, bà T3 tại xóm H (nay là thôn B), xã Q, huyện Q được chia thành 02 thừa: thửa số 188 tờ bản đồ số 5 (bản đồ 299) có diện tích 1526m² giao cho ông T2 và bà N sử dụng nay là thửa số 137, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính) tại thôn B, xã Q có diện tích 1542,8m² và thừa số 138 tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính) có diện tích 516,3m² giao cho bà T3 được quyền sử dụng.

Năm 1990, ông Trần Bá T2 chết không để lại di chúc. Bà N và các con (P, H, H1, H2) trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất. Năm 1996, bà Trần Thị N được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 770595 đối với thửa đất số 188 tờ bản đồ số 05 có diện tích 1526m² (đất ở 200m², đất vườn 1326m²) và thửa đất số 132 tờ bản đồ số 6 có diện tích 614m² đất sản xuất nông nghiệp. Khi các con H, H1, H2 trưởng thành, đi miền N làm ăn. Bà N và ông P là những người trực tiếp quản lý thửa đất.

Ngày 02/6/2022, các bà Trần Thị T, Trần Thị K, Trần Thị Đ có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của ông Trần Bá T2.

Bà N khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng là thửa đất số 188 tờ bản đồ số 5, bà xin được nhận 1/2 diện tích thửa đất (771,4m²) và 01 nhà ở 3 gian, 1 gian bếp, còn diện tích 1/2 thừa đất (771,4m²) là di sản ông T2 để lại bà đề nghị chia theo pháp luật cho bà và các con. Trường hợp, tài sản của ông T2 hết thời hiệu khởi kiện thừa kế thì đề nghị Tòa án phân chia phần đất ở, đất vườn cho 02 người đang trực tiếp quản lý, sử dụng là bà N và ông P. Bà N có công sức tôn tạo, bảo quản, giữ gìn tài sản của ông T2 từ năm 1990 cho đến nay.

Bị đơn ông Trần Bá P vắng mặt. Tòa án đã tống đạt Đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ kèm theo; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp nhưng ông P không đến Tòa án làm việc, cũng không có lời khai gửi Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà Trần Thị T, Trần Thị K, Trần Thị Đ thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn về tên tuổi, con cái và di sản ông T2 để lại. Các bà không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của bà N và đã có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của ông T2 ngày 02/6/2022.

Ông Trần Bá H, bà Trần Thị H1 và ông Trần Bá H2: ông, bà là con của bà Trần Thị N và ông Trần Bá T2. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản ông T2 để lại, trường hợp di sản của ông T2 hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế thì đề nghị Tòa án chia tài sản của ông T2 cho 02 người đang trực tiếp quản lý và sử dụng là bà N và ông P.

Bà Mai Thị T1 vắng mặt. Tòa án đã tống đạt Đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ kèm theo; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp nhưng bà T1 không đến Tòa án làm việc, cũng không có lời khai gửi Tòa án.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Thửa đất số 188, tờ bản đồ số 5 (bản đồ địa chính), diện tích 1526m² tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nay là thửa đất số 137, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính dạng số) có diện tích thực tế 1555,4m², có tứ cận phía Đông giáp thửa đất số 138 bà Trần Thị Đ và mương nước, phía Tây giáp thửa đất số 234 ông Trần Văn L, phía Nam giáp đường xóm đi, phía Bắc giáp đất ông Lê Văn T5. Giá trị thửa đất tại thời điểm định giá: đất ở 5.000.000đ (năm triệu đồng)/1m², đất vườn 2.500.000₫ (hai triệu năm trăm nghìn đồng)/1m². Trên đất có các tài sản sau: 01 móng nhà phía Nam trị giá 11.040.000đồng; 01 nhà phía Nam bán mái lợp tôn, diện tích 27,2m² trị giá 27.200.000đồng; nhà tắm mái bê tông cốt thép, tường xây sò táp lô nền láng xi diện tích 3,9m² giá 1.000.000đồng; 01 bể cạn diện tích 25,2m³ trị giá 15.000.000đồng; nhà chăn nuôi phía Nam tường xây sò có da trát, mái lợp proximăng, nền láng xi diện tích 35,38m² trị giá 5.000.000đồng; 01 giếng trị giá 3.500.000đồng; sân bê tông (phía Nam) trị giá 500.000đồng; nhà ở phía Bắc mái lợp ngói, tường xây sò có da trát, nền láng xi, diện tích 50,4m² trị giá 54.000.000đồng; 01 nhà bếp hai mái prôximăng, tường xây sò da trát diện tích 10,24m² trị giá 3.000.000đồng; sân bê tông phía Bắc trị giá 3.000.000đồng. Một số cây trên đất: 02 cây si phía Nam trị giá 300.000đồng, 70 cây chuối trị giá 3.500.000đồng, 04 cây na thu hoạch trị giá 500.000đồng, 01 cây dừa trị giá 150.000đồng, 01 cây vông trị giá 150.000đồng, 01 cây cau phía Bắc trị giá 100.000đồng.

Tòa án đã tiến hành "Thông báo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá" cho các đương sự, không ai có khiếu nại hay ý kiến gì về tình trạng và giá trị tài sản đã được xem xét.

Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q thể hiện: thửa số 188 tờ bản đồ số 5 (bản đồ 299) có diện tích 1526m² nay là thửa số 137, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính) tại thôn B, xã Q có diện tích 1542,8m². Giảm 16,8m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do đo đạc bản đồ qua các thời kỳ. Ranh giới, mốc giới được sử dụng ổn định, liên tục, không lấn chiếm, phù hợp quy hoạch đất ở nông thôn.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào:

  • Khoản 5 Điều 26, khoản 2 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Điều 219, 611, 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Các Điều 95, 99, 167 và điểm d khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai năm 2013.
  • Các Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung và chia di sản thừa kể đối với thửa đất số 188 tờ bản đồ số 5 có diện tích 1526m² (đất ở 200m², đất vườn 1326m²) được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 770595 ngày 20/12/1996 mang tên bà Trần Thị N, nay là thừa 137 tờ số 16 (bản đồ địa chính) diện tích 1542,8m², có diện tích thực tế 1555,4m² tại xóm H (nay là thôn B), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Phân chia cụ thể như sau:

  1. Bà Trần Thị N được quyền sử dụng diện tích 1167,4m² (trong đó đất ở 150m², đất vườn 1017,4m²) thuộc thửa đất số 137 tờ số 16 (bản đồ địa chính), địa chỉ thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có tứ cận, kích thước cụ thể: phía Đông giáp thửa đất số 138 bà Trần Thị Đ và mương nước dài 8,35m + 19,67m + 5,32m + 7,30m, phía Tây giáp phần đất được chia cho ông Trần Bá P dài 8,52m + 17,84m và giáp thửa đất 224 ông Trần Văn L dài 14,32m + 9,80m, phía Nam giáp đường xóm đi dài 0,44m + 14,36m, phía Bắc giáp đất ông Lê Văn T5 dài 19,31m + 10,48m + 3,70m + 5,23m + 1,26m (có sơ đồ kèm theo). Và được quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm có 01 (một) nhà ở phía Bắc mái ngói có diện tích 50,4m², nhà bếp 2 mái proximang diện tích 10,24m², sân bê tông phía Bắc.
  2. Ông Trần Bá P được quyền sử dụng diện tích 388m² (trong đó đất ở 50m², đất vườn 338m²) thuộc thửa đất số 137 tờ số 16 (bản đồ địa chính), địa chỉ thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có tứ cận, kích thước cụ thể: phía Đông giáp phần đất được chia cho bà Trần Thị N dài 8,52m + 17,84m, phía Tây giáp thửa đất 224 ông Trần Văn L dài 2,94m + 5,66m + 19,37m, phía Nam giáp đường xóm đi dài 14,20m, phía Bắc giáp phần đất được chia cho bà Trần Thị N dài 14,58m (có sơ đồ kèm theo). Vợ chồng ông Trần Bá P, bà Mai Thị T1 được quyền sở hữu tài sản trên đất gồm nhà phía Nam mái lợp tôn diện tích 27,2m², móng nhà phía Nam, nhà tắm, bể cạn, nhà chăn nuôi phía Nam, giếng, sân bê tông.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/10/2024, bị đơn ông Trần Bá P có đơn kháng cáo với nội dung: không chấp nhận toàn bộ nội dung mà Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã tuyên vào ngày 17/9/2024; đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xem xét nguyện vọng của ông P là giữ nguyên hiện trạng đối với thửa đất số 137, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính).

Ngày 28/10/2024, bị đơn ông Trần Bá P có văn bản bổ sung đơn kháng cáo với nội dung: Tồn tại duy nhất một chứng cứ là bà T3 đã giao đất cho một mình ông Trần Bá T2 quản lý và sử dụng, nên nguồn gốc thửa đất số 137, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính), diện tích 1542,8m² tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là của cha ông P là ông Trần Bá T2. Sau khi cha ông P chết, hai người quản lý di sản là mẹ ông P (bà Trần Thị N) và ông Trần Bá P. Nên trước khi chia thừa kế phải trích ra cho hai người diện tích trong phần di sản mà cha ông P đã để lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Trần Bá P đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo và kháng cáo bổ sung, giữ nguyên hiện trạng đối với thửa đất số 137, tờ bản đồ số 16.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của bị đơn ông Trần Bá P đúng thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Bá P, sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên.
  • Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn ông Trần Bá P không được chấp nhận nên ông P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về chia di sản thừa kế thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu theo quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Trần Bá P có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp lệ, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị N, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hoàng Thị N1; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Bá H, bà Trần Thị H1, ông Trần Bá H2 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị T, bà Trần Thị K, bà Trần Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trần Bá P; Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về nội dung kháng cáo nguồn gốc thửa đất số 137, tờ bản đồ số 16 là của cha ông P (ông Trần Bá T2): Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Trần Bá P thừa nhận ông Trần Bá T2 và bà Nguyễn Thị T3 là vợ chồng, có 5 người con chung là Trần Văn T4, Trần Bá H3, Trần Thị T, Trần Thị K, Trần Thị Đ. Năm 1980, ông T2 cưới bà Trần Thị N và có 4 con chung với bà N là Trần Bá P, Trần Bá H, Trần Thị H1, Trần Bá H2. Sau khi ông T2, bà N chung sống với nhau, bà T3 làm ăn riêng. Năm 1982, ông T2 và bà T3 thống nhất thửa đất ở, đất vườn của ông T2, bà T3 được chia thành 2 thừa: thừa số 188, tờ bản đồ số 5 (bản đồ 299), nay là thửa 137, tờ bản đồ 16 (bản đồ địa chính), diện tích 1.526m² và thừa số 138, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính), diện tích 516,3m². Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P cũng thừa nhận việc phân chia thửa đất là có sự thống nhất của bà T3 và bà N; bà T3 thống nhất là giao cho ông T2 và bà N sử dụng. Như vậy, tại đơn kháng cáo, bị đơn ông Trần Bá P cho rằng bà Nguyễn Thị T3 đã giao thừa số 188, tờ bản đồ số 5 (bản đồ 299), nay là thửa 137, tờ bản đồ 16 (bản đồ địa chính) cho một mình ông Trần Bá T2 quản lý và sử dụng nhưng ông P không xuất trình được bất kỳ một tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh về vấn đề này. Mặt khác, căn cứ vào quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 thì cho dù ông T2, bà N không có đăng ký kết hôn nhưng do quan hệ hôn nhân giữa ông T6 và bà N được xác lập trước ngày 03/01/1987 nên là hôn nhân thực tế, bà N đã sinh sống trên thửa đất số 188, tờ bản đồ số 5 (bản đồ 299), nay là thửa 137, tờ bản đồ 16 (bản đồ địa chính) từ năm 1980 cho đến nay. Tại Công văn số 107/BC-UBND ngày 02/8/2024 của UBND xã Q cũng có nội dung: Bà Trần Thị N được cấp giấy chứng nhận số I 770595, do UBND huyện Q cấp ngày 05/10/1995 đối với thửa đất số 188, tờ bản đồ số 5 (bản đồ 299), nay là thửa 137, tờ bản đồ 16, diện tích 1542,8m² (bản đồ địa chính). Quá trình giải quyết vụ án cũng xác định từ sau khi phân chia đất giữa bà T3 với ông T2, bà N thì các bên không có tranh chấp gì về quyền sử dụng đất, kể cả sau khi bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1996 thì cũng không có tranh chấp, yêu cầu gì về quyền sử dụng đất. Do đó, bản án sơ thẩm xác định thửa đất số 137, tờ bản đồ 16 (bản đồ địa chính), diện tích 1.526m² là tài sản chung vợ chồng của ông T2, bà N để đưa vào phân chia là có cơ sở nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của nguyên đơn.

[2.2]. Về nội dung kháng cáo yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đối với thửa đất số 137, tờ bản đồ 16, diện tích 1542,8m² (bản đồ địa chính), Hội đồng xét xử thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, tại Đơn khởi kiện đề ngày 06/10/2022, nguyên đơn bà Trần Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 137. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được phân tích ở trên cũng như bản đồ địa chính qua các thời kỳ, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp thì có cơ sở xác định thửa đất số 137 là tài sản chung của ông T2 và bà N. Trong quá trình chung sống, bà N và ông T2 không có thỏa thuận về tài sản, bà N hiện nay vẫn là người đang quản lý, sử dụng tài sản, việc phân chia tài sản chung không thuộc trường hợp bị hạn chế, do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà N về chia tài sản chung là đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đối với yêu cầu chia di sản thừa kế, quá trình giải quyết vụ án xác định ông Trần Bá T2 chết ngày 10/10/1990, tính đến ngày 06/10/2022 bà Trần Thị N mới khởi kiện là đã hết thời hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người thừa kế của ông T2 đều thống nhất nếu di sản của ông T2 đã hết thời hiệu khởi kiện thì đề nghị chia tài sản của ông T2 cho hai người hiện đang trực tiếp quản lý, sử dụng là bà N và ông P. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho bà N và ông P mỗi người được hưởng ½ di sản mà ông T2 để lại là 388,85m² là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn.

Từ những phân tích trên, cho thấy bị đơn kháng cáo nhưng không có cơ sở, không đưa ra các căn cứ để chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ xác định thửa đất đang tranh chấp hiện nay có một phần diện tích lấn sang thửa đất của bà Nguyễn Thị T3 (đã chết năm 2015), bà T3 có 03 đồng thừa kế là bà Trần Thị T7, Trần Thị K, Trần Thị Đ nhưng cấp sơ thẩm chưa hỏi ý kiến của bà Trần Thị K, bà Trần Thị Đ (là những người thừa kế của bà Nguyễn Thị T3) về phần diện tích lấn sang thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị T3 là thiếu sót. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/01/2025 do Toà án tiến hành trong giai đoạn xét xử phúc thẩm và tại Bản tự khai ngày 15/01/2025, bà Trần Thị Đ, Trần Thị K đều xác định: các bà là con đẻ của bà Nguyễn Thị T3 (đã chết). Trước khi bà T3 chết đã để lại di chúc, giao toàn bộ thửa đất số 138, tờ bản đồ số 16, được UBND huyện Q cấp năm 1996 mang tên Nguyễn Thị T3 cho bà Đ quản lý, sử dụng nhưng bà Đ chưa đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên bà Đ. Thửa đất số 137, tờ bản đồ 16 tại thôn B, xã Q đang tranh chấp hiện nay có một phần diện tích lấn sang thửa đất của bà T3, phần diện tích đất lấn sang bà Đ, bà K không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án công nhận hiện trạng hiện nay các bên đang sử dụng. Như vậy, các đồng thừa kế của bà T3 đều thống nhất đề nghị Tòa án công nhận theo hiện trạng sử dụng đất của cả hai thửa đất như hiện nay nên việc cấp sơ thẩm chia thửa đất với diện tích theo hiện trạng sử dụng là vẫn đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự. Đồng thời, khi phân chia tài sản trên đất bản án sơ thẩm chưa phân định về quyền sở hữu đối với cây cối trên đất. Tuy nhiên, tại "Đơn đề nghị xét xử vắng mặt" của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là bà Trần Thị N2 có đề nghị: cây cối, tài sản nằm trên phần đất chia cho ai thì người đó được quyền sở hữu, không yêu cầu Toà án phân chia thừa kế trị giá cây cối, tài sản gắn liền với đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Trần Bá P cũng thống nhất trên đất có một số tài sản, cây cối khác có giá trị sử dụng còn lại nhỏ nên không yêu cầu giải quyết, những tài sản trên khi phân chia thuộc đất của người nào thì người đó được hưởng nên việc cấp sơ thẩm không phân định về quyền sở hữu đối với cây cối trên đất là thiếu sót nhưng không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự, tại cấp phúc thẩm đã khắc phục thiếu sót này nên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, khi phân chia quyền sử dụng đất tại phần quyết định của bản án sơ thẩm còn mô tả về quyền sử dụng đất được chia cho bà Trần Thị N thiếu các điểm so với sơ đồ kèm theo (tuyên thiếu phần phía Đông giáp mương dài 9,08 m và phía Nam giáp đất bà Trần Thị Đ dài 1,76m + 11,95m, giáp phần đất chia cho ông Trần Bá P dài 14,58m) nên cấp phúc thẩm sửa bản sơ thẩm về cách tuyên.

[4]. Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của bị đơn ông Trần Bá P không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Bá P.
  2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

    2.1. Căn cứ vào:

    • Khoản 5 Điều 26, khoản 2 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
    • Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
    • Điều 219, 611, 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • Các Điều 95, 99, 167 và điểm d khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai năm 2013.
    • Các Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    2.2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung và chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 188 tờ bản đồ số 5 có diện tích 1526m² (đất ở 200m², đất vườn 1326m²) được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 770595 ngày 20/12/1996 mang tên bà Trần Thị N, nay là thừa 137 tờ số 16 (bản đồ địa chính) diện tích 1542,8m², có diện tích thực tế 1555,4m² tại xóm H (nay là thôn B), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Phân chia cụ thể như sau:

    2.2.1. Bà Trần Thị N được quyền sử dụng diện tích 1167,4m² (trong đó đất ở 150m², đất vườn 1017,4m²) thuộc thửa đất số 137 tờ số 16 (bản đồ địa chính), địa chỉ thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có tứ cận, kích thước cụ thể: Phía Đông giáp thửa đất số 138 (bà Trần Thị Đ) và mương nước, dài: 8,35m + 19,67m + 5,32m + 7,30m + 9,08m; Phía Tây giáp phần đất được chia cho ông Trần Bá P dài 8,52m + 17,84m và giáp đất ông Trần Văn L (thừa số 224) dài 14,32m + 9,80m; Phía Nam giáp đất bà Trần Thị Đ (thừa số 138) dài 11,95m + 1,76m; giáp đường xóm dài 0,44m + 14,36m và giáp phần đất chia cho ông Trần Bá P dài 14,58m; Phía Bắc giáp đất ông Lê Văn T5 dài 19,31m + 10,48m + 3,70m + 5,23m + 1,26m (có sơ đồ kèm theo). Và được quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm có 01 (một) nhà ở phía Bắc, mái ngói có diện tích 50,4 m², nhà bếp 2 mái proximang diện tích 10,24 m², sân bê tông phía Bắc.

    2.2.2. Ông Trần Bá P được quyền sử dụng diện tích 388m² (trong đó đất ở 50m², đất vườn 338m²) thuộc thửa đất số 137 tờ số 16 (bản đồ địa chính), địa chỉ thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có tứ cận, kích thước cụ thể: phía Đông giáp phần đất được chia cho bà Trần Thị N dài 8,52m + 17,84m, phía Tây giáp thửa đất 224 ông Trần Văn L dài 2,94m + 5,66m + 19,37m, phía Nam giáp đường xóm đi dài 14,20m, phía Bắc giáp phần đất được chia cho bà Trần Thị N dài 14,58m (có sơ đồ kèm theo). Vợ chồng ông Trần Bá P, bà Mai Thị T1 được quyền sở hữu tài sản trên đất gồm nhà phía Nam mái lợp tôn diện tích 27,2m², móng nhà phía Nam, nhà tắm, bể cạn, nhà chăn nuôi phía Nam, giếng, sân bê tông.

  3. Cây cối và tài sản trên đất được phân chia trên phần diện tích đất của đương sự nào thuộc quyền sở hữu của đương sự bên đó.
  4. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị N là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn ông Trần Bá P phải nộp số tiền 44.913.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu, chín trăm mười ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị đơn ông Trần Bá P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005830 ngày 23/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  8. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Quỳnh Lưu;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/DS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 18/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản giữa bà N và anh P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger