|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 18/2024/DS-ST Ngày: 19/4/2024 (V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng) |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Kiều Thu
- Ông Đỗ Văn Hòa
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa:
Bà Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 424/2023/TLST- DS ngày 06/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QÐST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2023/QÐST–DS ngày 29/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng T
Địa chỉ trụ sở: 266 - 268 N, Phường V, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng Giám Đốc.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thái H - Chuyên viên xử lý nợ (Văn bản uỷ quyền số 3270/2022/GUQ-CNBT ngày 26/12/2022)
Địa chỉ liên hệ: 364 T, thành phố P T, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu V - Sinh năm: 1982
Địa chỉ: Khu phố 4, Phường Đ, Thảnh Phố P T, Tinh Bình Thuận.
Ông H có mặt, vắng mặt bà V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 11 năm 2023 nguyên đơn là Ngân hàng T và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thái H đều trình bày:
Ngày 04/08/2022, bà Nguyễn Thị Thu V có ký với Ngân hàng T - Chi nhánh Binh Thuận, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp
đồng; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng đối với số thẻ 472074 – 8827 theo các nội dung như sau:
- Hạn mức sử dụng thẻ: 50.000.000 đồng
- Mục đích: Tiêu dùng
- Lãi suất: 2,6%/tháng
Ngày 16/08/2022, bà Nguyễn Thi Thu Vân có ký Giấy đề nghị nâng hạn mức sử dụng thẻ từ 50.000.000 đồng lên 70.000.000 đồng
Sau khi được cấp thẻ tín dụng và nâng hạn mức sử dụng thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 60.000.000 đồng, phí và lãi phát sinh là 27.786.436 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà Vân đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 3.695.168 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 23/11/2023, bà Nguyễn Thị Thu V còn nợ ngân hàng số tiền là 84.091.268 đồng trong đó nợ gốc 63.670.620 đồng, nợ lãi 20.420.648 đồng.
Mặc dù, Ngân hàng đã yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu V có trách nhiệm thanh toán nhưng bà Nguyễn Thị Thu V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, Ngân hàng T buộc bà Nguyễn Thị Thu V phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 96.755.184 đồng, trong đó nợ gốc 63.670.620 đồng, nợ lãi 34.884.564 đồng và bà Nguyễn Thị Thu V có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày xét xử cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Toà án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu V. Tuy nhiên, bà Vân không đến Toà án để tham gia tố tụng nên không có lời khai tại hồ sơ và không có lời khai tại phiên toà.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, đồng thời chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên việc xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị Thu V phải trả cho Ngân hàng T tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 96.755.184 đồng, trong đó nợ gốc 63.670.620 đồng, nợ lãi 34.884.564 đồng và bà Nguyễn Thị Thu V có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày xét xử cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng:
Ngân hàng T khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu V có nơi cư trú tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Đây là hợp đồng tín dụng vay tiền giữa Ngân hàng và cá nhân, nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, theo quy định tại khoản 03 Điều 26, điểm a khoản 01 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn, bà Nguyễn Thị Thu V, đã nhận hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 174, 175, 177, 227, 228 và 233 Bộ luật tố tụng dân sự để xem xét vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Ngân hàng T khởi kiện buộc bà Nguyễn Thị Thu V phải trả cho Ngân hàng T tổng số tiền tính đến ngày 19/4/2024 là 96.755.184 đồng, trong đó nợ gốc 63.670.620 đồng, nợ lãi 34.884.564 đồng và bà Nguyễn Thị Thu V có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày xét xử cho đến khi trả dứt nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng - đối với số thẻ 472074 – 8827.
Căn cứ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng - đối với số thẻ 472074 – 8827 các bên thỏa thuận hạn mức sử dụng thẻ 50.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 2,6%/tháng, đến ngày 16/08/2022, bà Nguyễn Thi Thu Vân có ký Giấy đề nghị nâng hạn mức sử dụng thẻ từ 50.000.000 đồng lên 70.000.000 đồng
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Thu V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, tính đến ngày 19/4/2024 là 96.755.184 đồng, trong đó nợ gốc 63.670.620 đồng, nợ lãi 34.884.564 đồng.
Điều 385 Bộ luật dân sự quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Điều 401 Bộ luật dân sự quy định:
- “1. Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
- 2. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật”.
Điều 463 Bộ luật dân sự quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Khoản 01 điều 466 Bộ luật dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Đây là việc vay tiền của tổ chức tín dụng nên lãi suất được áp dụng theo hợp đồng tín dụng giữa hai bên đã ký kết.
Căn cứ vào các quy định trên thì việc Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu V trả nợ khoản tiền vay tính đến ngày 19/4/2024 là 96.755.184 đồng, trong đó nợ
gốc 63.670.620 đồng, nợ lãi 34.884.564 đồng và tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc từ ngày 20/4/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu này.
[3] Ý kiến của Kiểm sát viên về thủ tục tố tụng và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Thu V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 01 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự thì quyền kháng cáo bản án của các đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, của các đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 93, Điều 95, Điều 147, Điều 174, Điều 199, Điều 202, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 299, Điều 317, Điều 319, Điều 232, Điều 463, Điều 466, Điều 357, Điều 385 và Điều 401 của Bộ luật dân sự.
- Luật ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng;
- Luật thi hành án.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T.
Buộc bà Nguyễn Thị Thu V phải trả cho Ngân hàng T, tổng số tiền tính đến ngày 19/4/2024 là 96.755.184 đồng, trong đó nợ gốc 63.670.620 đồng, nợ lãi 34.884.564 đồng.
Kể từ ngày 20/04/2024 cho đến khi hoàn thành việc thi hành khoản nợ gốc, nếu bà Liên chậm trả tiền, bà phải trả lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng, đối với số thẻ 472074 – 8827, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu V phải chịu 4.837.759 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng T 2.102.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001010 do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết thu ngày 05/12/2023.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/4/2024) Ngân hàng T có quyền kháng cáo, bà Nguyễn Thị Thu V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
5. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN LƯU TRIỀU |
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
