TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/DS-ST Ngày: 05-9-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Phú và bà Trần Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 08/2024/TLST-TCDS ngày 15 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-TCDS ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH M1
Địa chỉ: Tầng E, Khối E. Toà nhà Cộng hoà Garden, Số B C, phường A, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện: bà Nguyễn Thị Huyền T – Giám đốc
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Lê Đức L – Phó Giám đốc
Người được ủy quyền lại tham gia tố tụng: Ông Đào Tùng L1 – Chuyên viên xử lý nợ. Có mặt.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Công ty TNHH M1: Công ty Cổ phần M2
Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện: ông Hoàng Anh T1 – Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phan Huy M – Giám đốc Trung tâm xử lý nợ.
Người được ủy quyền lại tham gia tố tụng: Ông Đào Tùng L1 – Chuyên viên xử lý nợ. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Nam H, sinh năm 1979
Địa chỉ: Khu phố C, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1984
Địa chỉ: Khu phố C, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần V
Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội;
Người đại diện: ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Tuấn A – Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý
Người được uỷ quyền lại tham gia tố tụng: ông Đào Tùng L1 – Chuyên viên xử lý nợ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, và tại phiên toà người đại diện của nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP V (sau đây viết tắt là V1) và Công ty TNHH M1 (sau đây viết tắt là Công ty M1) đã ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPB ngày 30/6/2023 và Phụ lục Hợp đồng mua bán nợ ngày 25/10/2023. Theo đó, V1 đồng ý bán và Công ty M1 đồng ý mua các khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Nam H, bao gồm các khoản nợ gốc, lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng (hoặc Hợp đồng cho vay) mà ông Nguyễn Nam H đã ký kết với V1. Cụ thể khoản vay của ông Nguyễn Nam H như sau:
Theo hợp đồng cho vay số LN2106303945437 ngày 02/7/2021, Ông Nguyễn Nam H vay của V1 số tiền 535.000.000 đồng; thời hạn vay 84 tháng tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay; lãi suất cho vay là 6,8%/năm cố định trong thời hạn 12 tháng; sau khoảng thời gian đó, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm, ngày điều chỉnh đầu tiên là ngày 02/7/2022, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/10/2022; mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,6%/năm; mục đích sử dụng vốn vay là thanh toán tiền mua xe ô tô; trả nợ gốc theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 10, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 10/8/2021, số tiền nợ gốc mà bên vay phải trả mỗi kỳ là 6.369.000 đồng, kỳ cuối cùng trả dứt nợ vay; các kỳ trả nợ lãi: bên vay phải trả tiền lãi cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 10, bắt đầu từ ngày 10/8/2021. Ngày 02/7/2021, ông Nguyễn Nam H đã nhận đủ số tiền vay 535.000.000 đồng, giải ngân theo hình thức là V1 chuyển tiền vào tài khoản của bên thụ hưởng là Công ty cổ phần K.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Nguyễn Nam H và bà Hoàng Thị T2 đã thế chấp tài sản là xe ô tô NISSAN Navara EL2.5L biển kiểm soát 73C – 131.18, số khung: MNTCC2D23Z0092006, số máy: YD25949381, đã được Phòng C Công an tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73005127, ngày 02/7/2021 mang tên chủ xe Nguyễn Nam H, theo Hợp đồng thế chấp số LN2106303945437 ngày 02/7/2021 được ký kết giữa ông Nguyễn Nam H, bà Hoàng Thị T2 với V1.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Nam H đã không thực hiện đúng cam kết trong Hợp đồng tín dụng, chỉ trả được số tiền gốc là 95.535.000 đồng và 51.278.724 đồng tiền lãi nên các khoản vay của Ông, B đã được chuyển thành nợ quá hạn vào ngày 10/11/2024 Ngân hàng V và sau này là Công ty M1 đã tìm cách làm việc nhiều lần nhưng Ông, Bà vẫn cố tình trốn tránh, không trả nợ nên Công ty M1 thực hiện thủ tục khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn để yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Nam H phải thanh toán hết số tiền còn nợ cho Ngân hàng V. Trường hợp ông H không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị Toà án tuyên xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 12/7/2024, Công ty M1 và Công ty Cổ phần M2 (Công ty M2) đã ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER, Phụ lục 02 Hợp đồng mua bán nợ số 09VPB-09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER, ký hiệu 36/PL02/HĐ09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER. Theo đó, Công ty M1 đồng ý bán và Công ty M2 đồng ý mua toàn bộ khoản nợ của ông Nguyễn Nam H tại V1 mà trước đó Công ty M1 đã mua theo Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPB và Phụ lục đính kèm ngày 30/6/2023. Cụ thể, Công ty M2 mua khoản nợ được xác định bằng 100% của nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng cho vay số LN2106303945437 ngày 02/7/2021 mà ông Nguyễn Nam H đã ký kết với V1. Đồng thời, Công ty M1 chuyển giao quyền chủ nợ, Công ty M2 kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của V1 đối với các khoản nợ đã mua và quyền đối với tài sản đảm bảo liên quan đến khoản nợ của ông Nguyễn Nam H. Trong đó có quyền khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Toà án theo quy định của pháp luật. Tại Văn bản số 10007/2024/CV-XLN-JUPITER ngày 29/7/2024, Công ty M2 đề nghị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Nam H như trước đây đại diện Công ty M1 đã trình bày, đề nghị Toà án sớm đưa vụ án ra xét xử, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về phía bị đơn ông Nguyễn Nam H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T2: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến hòa giải nhiều lần nhưng ông Nguyễn Nam H và bà Hoàng Thị T2 đều vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không thể tổ chức để các đương sự hòa giải được. Theo Công văn trả lời xác minh số 77/CV-CAP ngày 19/4/2024, Công an phường B, thị xã B cho biết ông Nguyễn Nam H và bà Hoàng Thị T2 có đăng ký thường trú tại Khu phố C, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; tuy nhiên, ông H, bà T2 đều đã vắng mặt tại địa phương, hiện đi đâu, làm gì Công an phường B không rõ.
Vì vậy, vụ án không thể tiến hành hoà giải được, Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn đưa ra xét xử theo quy định.
Đại diện người có quyền lợi liên quan – Ngân hàng TMCP V trình bày: Theo hợp đồng cho vay số LN2106303945437 ngày 02/7/2021 được ký kết giữa V1 và ông Nguyễn Nam H, ông H vay của V1 số tiền 535.000.000 đồng; mục đích sử dụng vốn vay là thanh toán tiền mua xe ô tô, các điều khoản khác như nội dung Hợp đồng tín dụng mà Công ty M1 đã giao nộp cho Toà án. Ngày 02/7/2021, ông Nguyễn Nam H đã nhận đủ số tiền vay 535.000.000 đồng, giải ngân theo hình thức là V1 chuyển tiền vào tài khoản của bên thụ hưởng là Công ty cổ phần K.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Nguyễn Nam H và bà Hoàng Thị T2 đã thế chấp tài sản là xe ô tô NISSAN Navara EL2.5L biển kiểm soát 73C – 131.18, thuộc sở hữu của ông H, bà T2 theo Hợp đồng thế chấp số LN2106303945437 ngày 02/7/2021 được ký kết giữa ông Nguyễn Nam H, bà Hoàng Thị T2 với V1.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Nam H đã không thực hiện đúng cam kết trong Hợp đồng tín dụng, chỉ trả được số tiền gốc là 95.535.000 đồng và 51.278.724 đồng tiền lãi nên các khoản vay của Ông, B đã được chuyển thành nợ quá hạn vào ngày 10/11/2022. Sau đó, V1 và Công ty đã ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPB ngày 30/6/2023 và Phụ lục Hợp đồng mua bán nợ ngày 25/10/2023. Theo đó, V1 đồng ý bán và Công ty M1 đồng ý mua các khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Nam H, bao gồm các khoản nợ gốc, lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng (hoặc Hợp đồng cho vay) mà ông Nguyễn Nam H đã ký kết với V1. Do Hợp đồng mua bán nợ đã được hai bên thực hiện xong nên V1 đã chuyển giao tất cả các quyền, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ của ông Nguyễn Nam H tại V1 cho Công ty M1. Công ty M1 có các quyền theo quy định, V1 không có ý kiến gì đối với việc giải quyết vụ án của Toà án.
Tại phiên tòa:
- Đại diện nguyên đơn trình bày: do Công ty M1 và Công ty M2 đã thực hiện xong Hợp đồng mua bán nợ đối với khoản vay của ông Nguyễn Nam H nên nay tất cả các quyền, nghĩa vụ đã được chuyển giao cho Công ty M2, Công ty M1 không còn liên quan và không có yêu cầu giải quyết vấn đề gì nữa.
- Đại diện người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Công ty J xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Nam H phải thanh toán cho Công ty J số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 650.401.031 đồng, bao gồm 433.096.000 đồng nợ gốc, 217.305.031 đồng nợ lãi; tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ theo hợp đồng cho vay đã ký kết; trong trường hợp ông Nguyễn Nam H không trả được nợ thì yêu cầu Tòa án buộc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ.
- Đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan V1 trình bày ý kiến: giữ nguyên nội dung văn bản trình bày trước đây, không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề gì do tất cả quyền và nghĩa vụ đã được chuyển giao trước đó.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vấn đề gì vi phạm; nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung: thấy rằng yêu cầu của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Nam H phải có nghĩa vụ trả cho Công ty J số tiền còn nợ tính đến ngày 05/9/2024 là 650.401.031 đồng, bao gồm 433.096.000 đồng nợ gốc, 217.305.031 đồng nợ lãi và số tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ; trường hợp ông H không trả được nợ thì xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp mà các bên đã ký kết.
Về án phí: buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định; hoàn trả cho Công ty M1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa nguyên đơn Công ty M1, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Công ty M2 và ông Nguyễn Nam H phát sinh từ việc thực hiện Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng mua bán nợ ký kết giữa các bên. Bị đơn trong vụ án không có đăng ký kinh doanh và mục đích lợi nhuận khi giao kết hợp đồng nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Nam H có địa chỉ tại Khu phố C, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Về tư cách tham gia tố tụng: theo Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Công ty M1 khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn Nam H thanh toán số tiền còn nợ cho Công ty M1 nên Công ty M1 được xác định là nguyên đơn trong vụ án. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 12/7/2024, Công ty M1 và Công ty J đã ký kết hợp đồng mua bán nợ, theo đó toàn bộ khoản nợ của ông Nguyễn Nam H tại V1 mà Công ty M1 đã mua trước đó cùng với các quyền, nghĩa vụ liên quan trong đó có quyền khởi kiện, tham gia tố tụng đã được chuyển giao cho Công ty J; Công ty J yêu cầu được tham gia tố tụng và yêu cầu Toà án tiếp tục xét xử vụ án theo quy định. Căn cứ vào Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Công ty J được tham gia tố tụng trong vụ án thay thế cho Công ty M1 với tư cách là Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn.
- Về sự vắng mặt của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các giấy triệu tập hợp lệ cho bị đơn ông Nguyễn Nam H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị T2 theo địa chỉ được ghi trong Đơn khởi kiện và các Hợp đồng giữa hai bên mà nguyên đơn cung cấp; tuy nhiên ông Nguyễn Nam H và bà Hoàng Thị T2 vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được. Theo công văn trả lời xác minh của Công an phường B, ông H và bà T2 đều có đăng ký thường trú tại Khu phố C, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình nhưng hiện đều vắng mặt tại địa phương; ông H, bà T2 cũng không thông báo cho V1 hay Công ty M1 việc mình đi khỏi địa phương. Theo hướng dẫn tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, trường hợp này xác định là bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ nên vụ án được giải quyết theo thủ tục chung. Ông Nguyễn Nam H, bà Hoàng Thị T2 đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà, các Thông báo hoãn phiên toà và các giấy triệu tập hợp lệ 04 lần nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Nam H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T2.
[2] Về nội dung yêu cầu của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Công ty J về việc buộc ông Nguyễn Nam H trả nợ, xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử thấy:
Nội dung tranh chấp trong vụ án liên quan đến Hợp đồng cho vay số LN2106303945437 ngày 02/7/2021 được ký kết giữa V1 và ông Nguyễn Nam H; Hợp đồng thế chấp số LN2106303945437 ngày 02/7/2021 được ký kết giữa ông Nguyễn Nam H và bà Hoàng Thị T2 với V1; Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPB ngày 30/6/2023 và Phụ lục Hợp đồng mua bán nợ ngày 25/10/2023 được ký kết giữa V1 và Công ty M1; Hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER, Phụ lục 02 Hợp đồng mua bán nợ số 09VPB-09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER, ký hiệu 36/PL02/HĐ09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER được ký kết giữa Công ty M1 và Công ty M2. Các hợp đồng này đều được ký kết hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung các hợp đồng đều tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật dân sự, Thông tư 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Ngân hàng N quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Do đó, các hợp đồng trên đều có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng.
Theo các Sổ phụ kiêm phiếu báo nợ, báo có thì ngày 02/7/2021, V1 đã giải ngân cho ông Nguyễn Nam H nhận đủ số tiền vay của Hợp đồng cho vay số LN2106303945437 ngày 02/7/2021 là 535.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Nam H đã không thực hiện các nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo đúng cam kết nên khoản vay của ông Nguyễn Nam H đã bị chuyển sang nợ quá hạn vào ngày 10/11/2022. Theo Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPB ngày 30/6/2023 và Phụ lục Hợp đồng mua bán nợ ngày 25/10/2023 được ký kết giữa V1 với Công ty M1 và Hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER, Phụ lục 02 Hợp đồng mua bán nợ số 09VPB-09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER, ký hiệu 36/PL02/HĐ09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER được ký kết giữa Công ty M1 với Công ty M2 thì toàn bộ khoản nợ của ông Nguyễn Nam H tại V1 đã được bán cho Công ty M1, sau đó Công ty M1 bán lại cho Công ty M2. Thoả thuận tại các Hợp đồng nêu trên phù hợp với quy định tại các Điều 365, 368 Bộ luật dân sự, Điều 14 Thông tư 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Ngân hàng N nên có căn cứ xác định Công ty M2 đã được kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Công ty M1 (do V1 chuyển giao trước đây) đối với các khoản nợ đã mua và quyền đối với tài sản đảm bảo liên quan đến khoản nợ của ông Nguyễn Nam H. Trong đó có quyền khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Toà án theo quy định của pháp luật. Do đó, Công ty M2 có quyền yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn Nam H phải trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng mua bán nợ, hợp đồng cho vay nêu trên.
Theo trình bày của đại diện người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thì tạm tính đến ngày 05/9/2024 ông Nguyễn Nam H còn nợ Công ty J số tiền là 650.401.031 đồng, bao gồm 433.096.000 đồng nợ gốc, 217.305.031 đồng nợ lãi. Số tiền này phù hợp với thỏa thuận được các bên ký kết tại Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng mua bán nợ đã nêu.
Từ những nhận định trên, có thể thấy yêu cầu của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn tại phiên toà là có cơ sở, phù hợp với các quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 365, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự nên cần được chấp nhận, buộc ông Nguyễn Nam H phải có nghĩa vụ trả cho Công ty J toàn bộ số tiền còn nợ đã nêu trên và toàn bộ số tiền lãi phát sinh theo thoả thuận tại Hợp đồng cho vay số LN2106303945437 ngày 02/7/2021 được ký kết giữa ông V1 và ông Nguyễn Nam H.
Xét yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp: ông Nguyễn Nam H và bà Hoàng Thị T2 đã dùng xe ô tô NISSAN Navara EL2.5L biển kiểm soát 73C 131.18, số khung: MNTCC2D23Z0092006, số máy: YD25949381, đã được Phòng C Công an tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73005127, ngày 02/7/2021 mang tên chủ xe Nguyễn Nam H làm tài sản thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay của ông Nguyễn Nam H tại V1. Do hợp đồng thế chấp giữa hai bên đã có hiệu lực để thi hành nên nay Công ty J yêu cầu Tòa án xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp ông Nguyễn Nam H không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở. Cần căn cứ quy định tại các Điều 317, 318, 320, 323, 368 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu này. Trường hợp ông Nguyễn Nam H không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Công ty J có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ vay.
[3] Công ty M1 và V1 đều không có yêu cầu gì do đã chuyển giao toàn bộ quyền, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ của ông Nguyễn Nam H nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[4] Về án phí: Công ty J được Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí; trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Công ty M1. Ông Nguyễn Nam H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 74; Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;
Các Điều 90, 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Các Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Điều 7 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Các Điều 3, Điều 7, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định “Về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Toà án”.
- Xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Nam H và bà Hoàng Thị T2.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn - Công ty cổ phần M2:
- Buộc ông Nguyễn Nam H phải trả cho Công ty cổ phần M2 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 650.401.031 đồng, bao gồm 433.096.000 đồng nợ gốc, 217.305.031 đồng nợ lãi.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (06/9/2024) cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ, ông Nguyễn Nam H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số LN2106303945437 ngày 02/7/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Nam H.
Trường hợp ông Nguyễn Nam H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần M2 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là ô tô NISSAN Navara EL2.5L biển kiểm soát 73C – 131.18, số khung: MNTCC2D23Z0092006, số máy: YD25949381, đã được Phòng C Công an tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73005127, ngày 02/7/2021 mang tên Nguyễn Nam H thuộc sở hữu của ông Nguyễn Nam H và bà Hoàng Thị T2 để thu hồi nợ.
- Về án phí: buộc ông Nguyễn Nam H phải chịu 30.016.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Công ty Cổ phần M2 không phải chịu án phí.
Trả lại cho Công ty TNHH M1 số tiền 12.899.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai số 0003276 ngày 12/01/2024.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt) và trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án (đối với người vắng mặt).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, buộc bị đơn trả nợ, xử lý tài sản thế chấp
