Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 18/2024/KDTM-ST

Ngày: 25-10-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Thu An

2. Bà Hồ Thị Xuân Thiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 18/2024/TLST-KDTM ngày 09 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-KDTM ngày 16 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 160/2024/QĐST-HPT ngày 03 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn B (sau đây gọi tắt là công ty B); Địa chỉ: A đường số C, Khu Phố D, Phường L, Thành Phố T, TP ...

Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Thanh H – Giám đốc ;

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Tấn L, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú: Số A, đường C, khu B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương và chị Nguyễn Ngọc Tường V, sinh năm 2002; Địa chỉ cư trú: Thôn G, xã N, huyện Đ' Lấp, tỉnh Đắk Nông (Giấy ủy quyền ngày 2/7/2024) (Có mặt)

2. Bị đơn: Công ty TNHH MTV S (sau đây gọi tắt là công ty S1); Trụ sở: Lô A, khu công nghiệp C, khu phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Đại diện theo pháp luật: Abby Rafieha – Tổng giám đốc. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/3/2024, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty B – anh Nguyễn Tấn L và chị Nguyễn Ngọc Tường V trình bày:

Ngày 25/07/2023, giữa Công ty B và Công ty S1 có giao kết Hợp đồng nguyên tắc số 2507/2023/SHF-HĐNT, hợp đồng có nội dung phía công ty B Điền cung cấp sản phẩm bao bì carton các loại cho Công ty S1 theo đúng quy cách, chất lượng, số lượng. Cùng với đó, phía Công ty S1 có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng sau 60 ngày kể từ ngày chốt công nợ của hai bên vào ngày cuối cùng của tháng và bên công ty S1 nhận đầy đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ từ công ty B. Thời gian đầu hợp tác, phía công ty SHF thanh toán đúng tiến độ đối với các đơn hàng, tuy nhiên đối với các đơn hàng giao từ đầu năm 2024 thì phía công ty S1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng nguyên tắc. Cụ thể, từ ngày 12 tháng 3 năm 2024 đến ngày 29 tháng 6 năm 2024, công ty B đã giao cho công ty S1 số lượng hàng hóa tương đương với số tiền 2.300.591.489 đồng và cũng đã xuất 32 hóa đơn giá trị gia tăng có giá trị tương ứng theo số lượng sản phẩm bao bì carton các loại đã giao cho công ty S1. Tuy nhiên, đã quá thời hạn thanh toán nhưng công ty S1 chỉ mới thanh toán được số tiền 72.851.048 của Hóa đơn giá trị gia tăng số 83, xuất ngày 28/3/2024. Số tiền còn lại 2.227.740.441 đồng thì công ty S1 vẫn không thanh toán tiền hàng cho công ty B làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty B, mặc dù đã rất nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu.

Vì vậy, công ty B Điền khởi kiện Công ty S1 yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành giải quyết buộc Công ty S1 có nghĩa vụ trả cho Công ty B Điền số tiền nợ gốc: 2.227.740.441 đồng và tiền lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 81.765.777 đồng theo mức lãi 0,83%/tháng với thời gian chậm thanh toán của từng lần giao hàng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, công ty B sửa đổi về số tiền lãi chậm trả, với số tiền lãi yêu cầu là 5.875.080 đồng, cụ thể như sau:

  • Số tiền là 36.790.084 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 69 tính từ ngày 31/05/2024 đến 02/07/2024 là 36.790.084 đồng x 32 ngày x 0,83%/tháng = 325.715 đồng.
  • Số tiền là 108.463.671 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 70 tính từ ngày 31/05/2024 đến 02/07/2024 là 108.463.671 đồng x 32 ngày x 0,83%/tháng = 960.265 đồng.
  • Số tiền là 47.729.198 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 71 tính từ ngày 31/05/2024 đến 02/07/2024 là 47.729.198 đồng x 32 ngày x 0,83%/tháng = 422.562 đồng.
  • Số tiền là 88.789.478 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 72 tính từ ngày 31/05/2024 đến 02/07/2024 là 88.789.478 đồng x 32 ngày x 0,83%/tháng = 786.083 đồng.
  • Số tiền là 39.286.568 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 82 tính từ ngày 31/05/2024 đến 02/07/2024 là 39.286.568 đồng x 32 ngày x 0,83%/tháng = 347.817 đồng.
  • Số tiền là 93.281.220 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 84 tính từ ngày 31/05/2024 đến 02/07/2024 là 93.281.220 đồng x 32 ngày x 0,83%/tháng = 825.850 đồng.
  • Số tiền là 98.714.689 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 85 tính từ ngày 31/05/2024 đến 02/07/2024 là 98.714.689 đồng x 32 ngày x 0,83%/tháng = 873.954 đồng.
  • Số tiền là 88.552.920 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 86 tính từ ngày 31/05/2024 đến 02/07/2024 là 88.552.920 đồng x 32 ngày x 0,83%/tháng = 783.989 đồng.
  • Số tiền là 91.735.081 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 96 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 91.735.081 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 50.760 đồng.
  • Số tiền là 102.136.023 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 97 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 102.136.023 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 56.515 đồng.
  • Số tiền là 95.326.837 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 98 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 95.326.837 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 52.748 đồng.
  • Số tiền là 102.568.280 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 101 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 102.568.280 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 56.754 đồng.
  • Số tiền là 21.760.000 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 102 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 21.760.000 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 12.041 đồng.
  • Số tiền là 85.764.582 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 112 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 85.764.582 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 47.456 đồng.
  • Số tiền là 83.732.454 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 113 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 85.764.582 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 46.332 đồng.
  • Số tiền là 56.723.717 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 114 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 56.723.717 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 31.387 đồng.
  • Số tiền là 92.572.211 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 118 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 92.572.211 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 51.223 đồng.
  • Số tiền là 85.256.025 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 119 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 85.256.025 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 47.175 đồng.
  • Số tiền là 94.465.602 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 120 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 94.465.602 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 52.271 đồng.
  • Số tiền là 18.463.164 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 121 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 18.463.164 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 10.216 đồng.
  • Số tiền là 61.384.684 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 122 tính từ ngày 30/06/2024 đến 02/07/2024 là 61.384.684 đồng x 2 ngày x 0,83%/tháng = 33.966 đồng.

Như vậy, tổng số tiền công ty B Điền yêu cầu công ty S1 phải thanh toán là: 2.233.615.521 đồng, bao gồm tiền gốc: 2.227.740.441 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 5.875.080 đồng

Đối với bị đơn Công ty TNHH MTV S1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia làm việc và tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên không thể ghi nhận ý kiến của công ty TNHH MTV S1.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn nộp bản trình bày ý kiến.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành phát biểu ý kiến.

+ Việc chấp hành theo quy định pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Việc tuân thủ pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 234 BLTTDS, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại điều 71, điều 234 BLTTDS.

+ Quan điểm về giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 24, 34, 306 của Luật Thương mại; các Điều 357, 401, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 này 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty B, buộc Công ty S phải trả cho Công ty B Điền số tiền nợ gốc và nợ lãi là 2.233.615.519 đồng; Về án phí: bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1].Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn - Công ty B, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo quy định tại 24 Luật kinh doanh thương mại.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận và bị đơn công ty S1 có địa chỉ tại Khu công nghiệp C, phường T, thị xã C, Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn Công ty S1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ bằng hình thức tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đại diện hợp pháp của Công ty S1 không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc:

[2.1.1] Công ty B và Công ty S1 có ký kết với nhau Hợp đồng nguyên tắc số 2507/2023/SHF-HĐNT ngày 25/7/2023 theo đó thì Công ty B Điền cung cấp sản phẩm bao bì carton các loại cho Công ty S1. Việc giao kết hợp đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 74 Luật thương mại nên Hợp đồng Hợp đồng nguyên tắc số 2507/2023/SHF-HĐNT ngày 25/7/2023 có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, trong thời gian từ ngày 12 tháng 3 năm 2024 đến ngày 29 tháng 6 năm 2024, công ty B đã giao cho công ty S1 số lượng hàng hóa là bao bì carton các loại theo yêu cầu của Công ty S1 có tổng giá trị là 2.300.591.489 đồng (đã bao gồm thuế VAT) và cũng đã xuất 32 hóa đơn giá trị gia tăng có giá trị tương ứng theo từng đợt giao sản phẩm. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Tòa án thu thập, ý kiến trình bày của nguyên đơn là phù hợp với các tài liệu chứng cứ thể hiện các đợt giao hàng đều có có chữ ký của người nhận hàng và của nhân viên IQC được thể hiện trên các phiếu xuất kho thành phẩm và tương ứng với từng hóa đơn giá trị gia tăng mà Công ty B đã xuất cho công ty S1 và đã được Công ty S1 thực hiện kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng được thể hiện theo kết quả thu thập chứng cứ của Cục thuế tỉnh B tại công văn số 3208/CTBPH-TTKT2 ngày 20/9/2024 đối với các Hóa đơn giá trị gia tăng bao gồm: số 69 ngày 23/03/2024; số 70 ngày 23/03/2024; số 71 ngày 23/03/2024; số 72 ngày 23/03/2024; số 82 ngày 28/03/2024; số 83 ngày 28/03/2024; số 84 ngày 28/03/2024; số 85 ngày 28/03/2024; số 86 ngày 28/03/2024; số 96 ngày 05/04/2024; số 97 ngày 05/04/2024; số 98 ngày 05/04/2024; số 101 ngày 09/04/2024; số 102 ngày 09/04/2024; số 112 ngày 20/04/2024; số 113 ngày 20/04/2024; số 114 ngày 20/04/2024; số 118 ngày 25/04/2024; số 119 ngày 25/04/2024; số 120 ngày 25/04/2024; số 121 ngày 25/04/2024; số 122 ngày 25/04/2024; số 130 ngày 06/05/2024; số 131 ngày 06/05/2024; số 137 ngày 13/05/2024; số 138 ngày 14/05/2024; số 139 ngày 14/05/2024; số 148 ngày 22/05/2024; số 158 ngày 29/05/2024; số 159 ngày 29/05/2024; số 197 ngày 29/06/2024; số 198 ngày 29/06/2024, với tổng số tiền theo doanh số và tiền thanh toán thuế là 2.300.591.489 đồng.

[2.1.2] Theo thỏa thuận tại Điều IV của hợp đồng nguyên tắc số 2507/2023/SHF-HĐNT ngày 25/7/2023 có thỏa thuận: “Thời hạn thanh toán: công nợ 60 ngày kể từ ngày hoàn thành chốt công nợ giữa 2 bên vào ngày cuối cùng của tháng và bên B nhận đầy đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ từ bên A”. Như vậy, công ty S1 đã nộp hồ sơ đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước trên ứng dụng Thuế điện tử ngày 01/3/2024 đến ngày 30/6/2024 theo nội dung xác minh tại Cục thuế tỉnh B thể hiện phía công ty S1 đã nhận được hồ sơ thanh toán hợp lệ từ công ty B. Công ty S1 đã thanh toán số tiền 72.851.048 đồng của Hóa đơn giá trị gia tăng số 83, xuất ngày 28/3/2024 thông qua chuyển khoản, số tiền nợ còn lại cho đến nay đã quá hạn nhưng công ty S1 vẫn chưa thanh toán. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn công ty S1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào thể hiện đã thanh toán nợ xong cho Công ty B. Như vậy, thể hiện phía công ty S1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận hợp đồng nguyên tắc giữa các bên và theo quy định tại Điều 50 Luật Thương mại. Do đó, Công ty B khởi kiện yêu cầu công ty S1 thanh toán số tiền nợ gốc 2.227.740.441 đồng còn lại chưa thanh toán là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.

[2.2]. Về yêu cầu thanh toán tiền lãi:

Hợp đồng nguyên tắc số 2507/2023/SHF-HĐNT ngày 25/7/2023 giữa hai bên không có thỏa thuận về tiền lãi chậm thanh toán. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng ... thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác". Do đó, công ty B Điền yêu cầu Công ty S1 phải trả tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán là có căn cứ được chấp nhận.

Về mức lãi: Qua xác minh lãi suất nợ quá hạn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N, Ngân hàng thương mại cổ phần S2, Ngân hàng N1 cho thấy mức lãi suất mà Công ty B Điền yêu cầu thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán là 13,3%/năm, tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu mức lãi 0,83%/tháng, tương ứng 9,96%/năm như vậy là có lợi cho bị đơn và phù hợp với quy định Điều 306 của Luật thương mại nên có cơ sở được chấp nhận.

Về thời gian chậm thanh toán: Căn cứ các Hóa đơn giá trị gia tăng do Công ty B Điền xuất cho công ty S1 thì thời gian chậm thanh toán được tính như sau: Đối với các hóa đơn xuất trong tháng 3/2024 thì thời gian chậm thanh toán được tính từ ngày 31/5/2024 đến ngày 02/7/2024 (ngày nộp đơn khởi kiện) là 32 ngày. Các Đối với các hóa đơn xuất trong tháng 4/2024 thì thời gian chậm thanh toán được tính từ ngày 30/6/2024 đến ngày 02/7/2024 (ngày nộp đơn khởi kiện) là 02 ngày. Đối với các hóa đơn xuất trong tháng 5,6/2024 thì chưa vi phạm thời hạn thanh toán (tính đến ngày khởi kiện), do đó không yêu cầu tính lãi.

Như vậy, số tiền lãi được tính như sau:

Số tiền phải thanh toán trong tháng 5/2024 là: 601.607.828 đồng x 0,83%/tháng x 32 ngày = 5.326.233 đồng

Số tiền phải thanh toán trong tháng 6/2024 là: 991.889.660 đồng x 0,83%/tháng x 02 ngày = 548.845 đồng

Tổng số tiền lãi được tính là: 5.326.233 đồng + 548.845 đồng = 5.875.078 đồng.

Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc thanh toán số tiền lãi chậm thanh toán 5.875.078 đồng là có cơ sở được chấp nhận.

[2.3]. Từ những nhận định nêu tại mục [2.1] và mục [2.2], thì yêu cầu khởi kiện của Công ty B Điền được chấp nhận, buộc Công ty S1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty B tổng số tiền: 2.233.615.519 đồng (bao gồm nợ gốc là 2.227.740.441 đồng + nợ lãi chậm thanh toán là 5.875.078 đồng )

[2.4] Về Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2024/QĐ-BPKCTT ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành phong tỏa tài khoản tại ngân hàng: xét thấy cần duy trì Quyết định này để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của Công ty S1 đối với Công ty B.

[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty B Điền được chấp nhận không phải chịu án phí nên được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 38.277.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0004330 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn Công ty S1 phải chịu án theo mức án phí theo mức án phí có giá ngạch đối với yêu cầu của nguyên đơn chấp nhận với mức án phí là: 72.000.000đồng + (2% x 233.615.519 đồng ) = 76.672.310 đồng.

[4] Quan điểm của vị đại diện Viện Kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 24, 50, 55 và Điều 306 của Luật thương mại Căn cứ Khoản 1 Điều 30; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm b Khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 244, 266, 267, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn B đối với bị đơn Công ty TNHH MTV S về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.

Buộc Công ty TNHH MTV S có trách nhiệm thanh toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B Điền số tiền 2.233.615.519 đồng (bao gồm nợ gốc 2.227.740.441 đồng + nợ lãi chậm thanh toán là 5.875.078 đồng)

Kể từ ngày án có hiệu lực, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2024/QĐ-BPKCTT ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành phong tỏa tài khoản tại ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của Công ty S1 đối với Công ty B.

3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn B được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 38.277.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0004330 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn Công ty TNHH MTV S phải chịu án phí là 76.672.310 đồng

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Tòa án nhân dân tỉnh BP;

- VKSND thị xã Chơn Thành;

- Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;

- Đương sự;

- Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Chu Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/KDTM-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 18/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger