Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/KDTM-ST

Ngày: 10-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Hương

2. Ông Trần Phương Tín

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2023/TLST-KDTM ngày 16 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-KDTM ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QĐST-KDTM ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (P); trụ sở: 22 đường N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Vĩnh K hoặc ông Lê Hoàng G; địa chỉ: lầu M, số B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 3022/UQ-PVB ngày 03/5/2024) (ông Lê Hoàng G có mặt)

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ1; địa chỉ: Số A đường A, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1976, chức vụ: Giám đốc, địa chỉ: Số G đường B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 25/5/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 29/01/2019, Công ty Cổ phần Đ1 (gọi tắt là “Công ty Đ1”) và Ngân hàng TMCP Đ (gọi tắt là “P”) đã cùng ký Hợp đồng cho vay số 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019 và Khế ước nhận nợ ngày 29/01/2019 với số tiền 1.100.000.000 đồng; thời hạn vay: 72 tháng; nợ gốc: được trả 72 kỳ, 01 tháng/kỳ; lãi suất cho vay: trong 12 đầu là 8,99%, sau đó điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: lãi suất tiền gửi “tiết kiệm đại chúng” lĩnh lãi cuối kỳ cao nhất của khách hàng cá nhân, có loại tiền tương ứng với loại tiền vay, kỳ hạn 13 tháng, theo biểu lãi suất huy động của Ngân hàng C từng thời kỳ (+) biên độ 4,5%/năm; lãi suất quá hạn trên gốc quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất quá hạn trên lãi chậm trả: bằng 10%/năm; mục đích sử dụng vốn vay: mu axe ô tô con nhãn hiệu PEUGEOT, số loại 5008 P87 16G AT, 07 chỗ, màu đen, xe mới 100%.

Để đảm bảo cho các khoản vay của Công ty Đ1 theo 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019 thì các bên đã ký kết Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 207/2019/HĐBĐ/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019 để thế chấp xe ô tô con nhãn hiệu là PEUGEOT, số loại 5008 P87 16G AT, 07 chỗ, màu đen, xe mới 100%, số khung RN2P75VA6JC112907, số máy 577047110UF205G02, biển số 51G-780.56 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 443337 do Công an Thành phố H cấp ngày 28/01/2019. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/01/2019 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Đ1 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, K2 ước nhận nợ đã ký. P đã nhiều lần yêu cầu Công ty Đ1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bàn giao tài sản đảm bảo nhưng Công ty Đ1 không thực hiện yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Tổng dư nợ của công ty Đ1 tạm tính đến 07/8/2023 tại P là 735.101.396 đồng.

Do đó, P khởi kiện Công ty Đ1, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết:

  1. Tuyên buộc Công ty Đ1 thanh toán cho P số tiền 708.929.421 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc: 580.548.000 đồng; số tiền nợ lãi (tính đến ngày 15/5/2023): 128.381.421 đồng. Thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Tuyên buộc Công ty Đ1 thanh toán phần nợ lãi, phí phạt chậm trả phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất phạt theo thỏa thuận tại 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019 kể từ ngày 16/5/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  3. Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty Đ1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi suất phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi nợ.
  4. Số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và nghĩa vụ trả nợ của Công ty Đ1 đối với P. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty Đ1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho P.

Quá trình giải quyết vụ án, P có ý kiến đối với tài sản bảo đảm cho khoản vay như sau: xe ô tô con nhãn hiệu là PEUGEOT, số loại 5008 P87 16G AT, 07 chỗ, màu đen, xe mới 100%, số khung RN2P75VA6JC112907, số máy 577047110UF205G02, biển số 51G-780.56 được chủ sở hữu là Công ty Đ1 thế chấp cho P để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, đồng thời đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/01/2019 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Tại Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 207/2019/HĐBĐ/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019, các bên thống nhất xe ô tô do Công ty Đ1 quản lý và sử dụng, P giữ bản chính các giấy tờ liên quan đến việc sở hữu tài sản thế chấp, bao gồm cả bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 443337 do Công an Thành phố H cấp ngày 28/01/2019. Hiện nay, P vẫn giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 443337 do Công an Thành phố H cấp ngày 28/01/2019. Theo Điều 8 Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 207/2019/HĐBĐ/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019, các bên thống nhất về phương thức xử lý tài sản thế chấp, đây là sự thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản thếp chấp ngay tại thời điểm khoản vay được giải ngân, cho thấy có sự phù hợp, đồng thuận về ý chí của các bên. Trên cơ sở thỏa thuận này, P có quyền xử lý tài sản theo phương thức mà các bên đã thống nhất và điều này đã được thể hiện tại yêu cầu khởi kiện.

* Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn Công ty Cổ Phần Đ1 và người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Nguyễn Văn K1 nhưng phía bị đơn không phản hồi ý kiến.

Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Lê Hoàng G – giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và cung cấp bảng tính lãi tạm tính đến ngày 10/7/2024, yêu cầu Tòa án:

  1. Tuyên buộc Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (P) số tiền 849.413.040 đồng, trong đó, nợ gốc là 580.548.000 đồng, nợ lãi là 268.865.040 đồng (gồm nợ lãi trong hạn là 134.157.599 đồng, nợ lãi trên gốc quá hạn là 116.237.364 đồng, lãi chậm trả trên lãi trong hạn là 18.470.077 đồng). Thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Tuyên buộc Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán phần nợ lãi, phí phạt chậm trả phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019 kể từ ngày 11/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  3. Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty Cổ phần Đ1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi suất phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ (P) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay là xe ô tô con nhãn hiệu PEUGEOT, số loại 5008 P87 16G AT, 07 chỗ, màu đen, số khung RN2P75VA6JC112907, số máy 577047110UF205G02, biển số 51G-780.56 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 443337 để thu hồi nợ.
  4. Số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần Đ1 đối với Ngân hàng TMCP Đ (P). Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty Cổ phần Đ1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ (P).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên trong Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thông báo, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; việc tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát được thực hiện đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo thời hạn giao Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (P) số tiền 849.413.040 đồng (trong đó, nợ gốc là 580.548.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 116.237.364 đồng, lãi trong hạn là 134.157.599 đồng, lãi chậm trả lãi là 18.470.077 đồng) và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 11/7/2024 cho đến khi Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ (P) theo quy định tại các thỏa thuận đã ký trong Hợp đồng cho vay số 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019.

Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trường hợp Công ty Cổ phần Đ1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi suất phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ (P) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu PEUGEOT, số loại 5008 P87 16G AT, 07 chỗ, màu đen, số khung RN2P75VA6JC112907, số máy 577047110UF205G02, biển số 51G-780.56 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 443337 do Công an Thành phố H cấp ngày 28/01/2019 để thu hồi nợ.

Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty Cổ phần Đ1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ (P).

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu đã được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng TMCP Đ (P) khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với Công ty Cổ phần Đ1. Đây là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 9.2 Điều 9 Hợp đồng cho vay số 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019 ghi nhận “... Trong trường hợp không giải quyết được thông qua thương lượng được thì một trong hai Bên có quyền xử lý theo đúng các điều khoản đã thỏa thuận tại (các) văn kiện tín dụng hoặc có quyền khởi kiện tại Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn. Trụ sở của nguyên đơn là nơi được nêu ở phần giới thiệu của Hợp đồng này”. Tại Văn bản số 3572/PVB-QL&TCTTS ngày 16/5/2023, P xác nhận thỏa thuận trên không phù hợp với quy định pháp luật do trụ sở của P và địa chỉ phần giới thiệu của Hợp đồng cho vay số 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019 (Ngân hàng TMCP Đ - chi nhánh G1 - phòng G2) là khác nhau. Do đó, P lựa chọn Tòa án nơi thực hiện hợp đồng - Tòa án nhân dân Quận 11 – là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Căn cứ Khế ước nhận nợ ngày 29/01/2019 thì việc giải ngân và nhận nợ được thực hiện tại địa chỉ Ngân hàng TMCP Đ - chi nhánh G1 - phòng G2 (số C đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) nên Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 12 tháng 6 năm 2024 và lúc 083010 tháng 7 năm 2024; bị đơn Công ty Đ1, người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Nguyễn Văn K1 đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho Công ty Đ1 và người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Nguyễn Văn K1 các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, phía bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền gốc và lãi nêu trên cho nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ, lãi của nguyên đơn:

Căn cứ Hợp đồng cho vay số 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019, Khế ước nhận nợ ngày 29/01/2019 được ký kết giữa PCông ty Đ1, có cơ sở để xác định phía bị đơn đã vay của P số tiền 1.100.000.000 đồng. Đây là giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận, được bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc P khởi kiện yêu cầu phía bị đơn trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu về thanh toán nợ của nguyên đơn, buộc Công ty Đ1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 10/7/2024 là 849.413.040 đồng, trong đó, nợ gốc là 580.548.000 đồng, nợ lãi là 268.865.040 đồng (gồm nợ lãi trong hạn là 134.157.599 đồng, nợ lãi trên gốc quá hạn là 116.237.364 đồng, lãi chậm trả trên lãi trong hạn là 18.470.077 đồng). Ngoài ra, phía bị đơn còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 11/7/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019 kể từ ngày 11/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[3.2] Về yêu cầu đối với tài sản bảo đảm của nguyên đơn:

Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 207/2019/HĐBĐ/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019 được ký kết theo quy định tại Điều 295, Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc thế chấp tài sản. Hợp đồng thế chấp nói trên cũng đã tiến hành giao dịch bảo đảm ngày 29/01/2019 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hồ Chí Minh theo đúng quy định tại Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm.

Vì vậy, Hợp đồng thế chấp nói trên có giá trị pháp lý. Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn trường hợp phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm có thông tin sau để thu hồi khoản nợ: Xe ô tô con nhãn hiệu là PEUGEOT, số loại 5008 P87 16G AT, 07 chỗ, màu đen, số khung RN2P75VA6JC112907, số máy 577047110UF205G02, biển số 51G-780.56 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 443337 do Công an Thành phố H cấp ngày 28/01/2019.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ được thanh toán theo thứ tự ưu tiên như sau:

  • Chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản thế chấp;
  • Thanh toán số tiền mà phía bị đơn phải trả cho nguyên đơn theo thứ tự: Nợ gốc, tiền lãi.

Sau khi đã thanh toán, nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm còn thừa sẽ được trả lại cho Công ty Đ1. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì Công ty Đ1 phải tiếp tục trả số phần tiền còn thiếu cho P, trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật về tài sản bảo đảm và pháp luật thi hành án dân sự.

Trường hợp Công ty Đ1 thanh toán xong khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì P có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho chủ sở hữu.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 157; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 317 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ (P), buộc Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (P) khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 10/7/2024 là 849.413.040 (tám trăm bốn mươi chín triệu, bốn trăm mười ba nghìn, không trăm bốn mươi) đồng, trong đó:
    • - Nợ gốc là 580.548.000 (năm trăm tám mươi triệu, năm trăm bốn mươi tám nghìn) đồng;
    • - Nợ lãi là 268.865.040 (hai trăm sáu mươi tám triệu, tám trăm sáu mươi lăm nghìn, không trăm bốn mươi) đồng, gồm: Nợ lãi trong hạn là 134.157.599 (một trăm ba mươi bốn triệu, một trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm chín mươi chín) đồng, nợ lãi trên gốc quá hạn là 116.237.364 (một trăm mười sáu triệu, hai trăm ba mươi bảy nghìn, ba trăm sáu mươi bốn) đồng, lãi chậm trả trên lãi trong hạn là 18.470.077 (mười tám triệu, bốn trăm bảy mươi nghìn, không trăm bảy mươi bảy) đồng;
    • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty Cổ phần Đ1 còn phải trả tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ theo lãi suất quy định trong Hợp đồng cho vay số 206/2019/HĐTD/PVB-PGD.LĐH ngày 29/01/2019.
    • Trường hợp phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng TMCP Đ (P) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm có thông tin sau để thu hồi khoản nợ: Xe ô tô con nhãn hiệu là PEUGEOT, số loại 5008 P87 16G AT, 07 chỗ, màu đen, số khung RN2P75VA6JC112907, số máy 577047110UF205G02, biển số 51G-780.56 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 443337 do Công an Thành phố H cấp ngày 28/01/2019.

    Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ được thanh toán theo thứ tự ưu tiên như sau:

    • - Chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản thế chấp;
    • - Thanh toán số tiền mà phía bị đơn phải trả cho nguyên đơn theo thứ tự: Nợ gốc, tiền lãi.

    Sau khi đã thanh toán, nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm còn thừa sẽ được trả lại cho Công ty Cổ phần Đ1. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì Công ty Cổ phần Đ1 phải tiếp tục trả số phần tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Đ (P), trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật về tài sản bảo đảm và pháp luật thi hành án dân sự.

    Trường hợp Công ty Đ1 thanh toán xong khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì P có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho chủ sở hữu.

  2. Về án phí:

    Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu án phí kinh doanh, thương mại có giá ngạch là 37.482.391 (ba mươi bảy triệu, bốn trăm tám mươi hai nghìn, ba trăm chín mươi mốt) đồng.

    Ngân hàng TMCP Đ (P) được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.178.588 (mười bảy triệu, một trăm bảy mươi tám nghìn, năm trăm tám mươi tám) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021228 ngày 14/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

- TANDTP.HCM;

- VKSND Quận 11;

- Chi cục THADS Quận 11;

- Các đương sự;

- Lưu: VT, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Tô Đông Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/KDTM-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 18/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger