Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/KDTM - PT

Ngày: 21 - 11 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nguyệt

  • Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thuỷ;

  • Bà Trương Thị Anh:

- Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Đạt -Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Bà Lê Thị Tranh- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLPT- KDTM ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án KDTM sơ thẩm số: 10/2024/KDTM -ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Ngân hàng thương mại cổ phần () Á (A1).

Địa chỉ: D, N, Phường E, Quận C, TP Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P, chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T, chức vụ: Giám đốc xử lý nợ.

Người được ủy quyền lại: Ông Bùi Huy H - Chuyên viên xử lý nợ (Có mặt)

Địa chỉ: Đường L, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn:

  1. Ông Trịnh Xuân D, sinh năm 1957;( Có mặt).

  2. Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1964

Cùng địa chỉ: Khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

(Bà Hoàng Thị L ủy quyền cho ông Trịnh Xuân D tham gia tố tụng giải quyết vụ án).

  1. Chị Từ Thị N, sinh năm 1989 ( Vắng mặt)

Đăng ký HKTT: Thôn D, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

Nơi cư trú cuối cùng: Khu T, Thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Cháu Trịnh Hoàng A, sinh năm 2020

  • Cháu Trịnh Hoàng B, sinh năm 2021.

Người đại diện cho cháu Trịnh Hoàng A, cháu Trịnh Hoàng B là chị Từ Thị N ( Vắng mặt)

2

Đăng ký HKTT: Thôn D, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

Nơi cư trú cuối cùng: Khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

3.3. UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh H1 - Chủ tịch ( Vắng)

Địa chỉ: Thị Trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

3.4. UBND xã M, huyện H.

Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND xã M ( V )

Địa chỉ: Xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án cũng như lời trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Á trình bày:

Anh Trịnh Anh X, sinh năm 1987 (đã chết 28/12/2022) có bố là Trịnh Xuân D, mẹ là Hoàng Thị L, vợ là Từ Thị N, có 02 con là cháu Trịnh Hoàng A và Trịnh Hoàng B.

Anh Trịnh Anh X vay vốn tại Ngân hàng TMCP Á (A1) theo Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Anh Trịnh Anh X và Ngân hàng TMCP Á (A1) ký các các Hợp đồng tín dụng sau:

1. Hợp đồng cấp tín dụng số BIS.CN.2512.280420 ngày 28/4/2020. Cho vay hạn mức số tiền 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng).

Mục đích vay nợ: Cho vay phục vụ việc xây sửa nhà, kinh doanh.

Phương thức cho vay: Cho vay từng lần.

Thời hạn cấp tín dụng: 120 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng cấp tín dụng.

Lãi suất cho vay: Được quy định trong Khế ước nhận nợ.

Lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.

Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.

Giải ngân bằng Khế ước nhận nợ Số [...], ngày 11/5/2020, giải ngân 700.000.000 đồng; Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số 12252607 của Trịnh Anh X tại A1;

Thời hạn cho vay từ ngày 12/5/2020 đến ngày 11/5/2030;

(1). Lãi suất: 10,2%/năm, cố định trong 12 tháng đầu tiên.

(2). Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức:

Lãi suất = LS13 + 3,9%/năm.

2. Hợp đồng cấp tín dụng số BIS.CN.4331.280421 ngày 29/4/2021. Cho vay hạn mức số tiền 1.350.000.000đ (Một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng).

Mục đích vay nợ: Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh - Bổ sung vốn lưu động kinh doanh bia, rượu, nước ngọt, nước giải khát.

Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng.

Thời hạn cấp tín dụng: 06 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng cấp tín dụng.

Lãi suất cho vay: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ.

Lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.

Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.

3

Giải ngân bằng 03 Khế ước nhận nợ sau:

  • Khế ước Số [...], ngày 13/10/2022, giải ngân 350.000.000 đồng; Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số 12252607 của Trịnh Anh X tại Ngân hàng TMCP Á;

    Thời hạn cho vay từ ngày 14/10/2022 đến ngày 13/10/2023;

    Lãi suất: 10,5%/năm, cố định trong 03 tháng đầu tiên.

    Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức:

    Lãi suất = LS13 + 3,0%/năm.

  • Khế ước Số [...], ngày 14/10/2022, giải ngân 500.000.000 đồng; Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số 12252607 của Trịnh Anh X tại Ngân hàng TMCP Á;

    Thời hạn cho vay từ ngày 15/10/2022 đến ngày 14/4/2023;

    Lãi suất: 10,5%/năm, cố định trong 03 tháng đầu tiên.

    Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức:

    Lãi suất = LS13 + 3,0%/năm.

  • Khế ước Số [...], ngày 17/10/2022, giải ngân 500.000.000 đồng; Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số 12252607 của Trịnh Anh X tại Ngân hàng TMCP Á;

    Thời hạn cho vay từ ngày 18/10/2022 đến ngày 17/4/2023;

    Lãi suất: 10,5%/năm, cố định trong 03 tháng đầu tiên.

    Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức:

    Lãi suất = LS13 + 3,0%/năm.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay là toàn bộ Quyền sử dụng 91 m² đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1372, tờ bản đồ số 7 tại xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 798824, số vào sổ cấp GCN: CH 05925 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp này 17/4/2020 đứng tên anh Trịnh Anh X.

Tài sản trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số BIS.BĐCN.255.280420 được công chứng tại Văn phòng C ngày 28/4/2020, số công chứng 971; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H ngày 28/4/2020.

Quá trình thực hiện hợp đồng anh Trịnh Anh X (chết ngày 28/12/2022) nên không thực hiện được việc trả nợ theo Thỏa thuận cấp tín dụng, hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng. Ngân hàng đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc giải quyết buộc phía những người thừa kế của anh X có nghĩa vụ trả toàn bộ các khoản vay cho ngân hàng, cụ thể:

Tính đến ngày 03/6/2024 anh Trịnh Anh X còn nợ A1 các khoản sau:

ST T KUNN Vốn gốc Lãi trong hạn Lãi quá hạn Phạt chậm trả lãi Tổng cộng
1 30886449 513.344.000 16.511.393 102.364.030 6.234.667 638.454.090

4

2 37522969 350.000.000 12.278.767 74.974.315 4.174.091 441.427.173
3 37535839 500.000.000 17.684.932 106.849.315 5.959.302 630.493.549
4 37564059 500.000.000 18.116.438 106.078.767 5.948.245 630.143.450
Tổng cộng 1.863.344.000 64.591.530 390.266.427 22.316.303 2.340.518.260

Buộc bị đơn tiếp tục trả lãi phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện cấp tín dụng, Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ kể từ ngày 04/6/2024 đến khi trả hết nợ.

Trong hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ với A1, đề nghị Tòa án tuyên A1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp cho các khoản vay để xử lý, thu hồi nợ cho ngân hàng.

Tại phiên tòa người được ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn trả toàn bộ nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử với tổng số tiền là: 2.420.629.165 đồng. Trong đó nợ gốc là 1.863.344.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 64.591.530 đồng, lãi quá hạn là 463.386.617 đồng, phạt chậm trả lãi 29.307.018 đồng.

Buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ còn lại theo thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện cấp tín dụng, Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ kể từ ngày 16/8/2024 đến khi trả hết nợ trong phạm vi di sản của anh Trịnh Anh X để lại. Cụ thể là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã thế chấp tại ngân hàng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trịnh Xuân D đồng thời là người được ủy quyền của bà Hoàng Thị L trình bày:

Ông và bà Hoàng Thị L là bố mẹ đẻ của anh Trịnh Anh X. Khi còn sống anh X có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Á để kinh doanh. Việc vay vốn giữa anh Trịnh Anh X và Ngân hàng thì ông cũng chỉ được biết khi anh X nói, còn cụ thể như thế nào thì ông không rõ. Ngày 28/12/2022 anh X gặp tai nạn đã qua đời. Nay Ngân hàng TMCP Á khởi kiện gia đình ông số tiền anh X còn nợ theo hợp đồng tín dụng và theo các khế ước nhận nợ. Phía gia đình không rõ số tiền vay, số tiền đã trả và số tiền còn nợ là bao nhiêu. Tuy nhiên việc ký hợp đồng vay vốn, thế chấp tài sản và các thông tin từ phía ngân hàng cung cấp là đúng. Gia đình chấp nhận trả số tiền mà anh X còn nợ lại ngân hàng trong phạm vi di sản của anh X đã thế chấp cho ngân hàng. Hiện tại sau khi anh X chết, vợ con bỏ đi làm ăn mưu sinh, nhà đất của anh X để lại ông bà đang trông coi. Đề nghị ngân hàng TMCP Á tạo điều kiện có thêm thời gian để gia đình bàn nhà, đất của anh X để lại thì mới có tiền trả cho ngân hàng. Trường hợp không bán được nhà trả nợ cho ngân hàng thì ông cũng phải chấp nhận để ngân hàng TMCP Á phát mại tài sản thế chấp.

5

Đối với chị Từ Thị N từ sau khi anh Trịnh Anh X chết một thời gian, chị N mang hai con đi làm ăn nhưng không rõ địa chỉ, thỉnh thoảng có gọi điện về với gia đình bên chồng. Xác minh tại địa phương chị N không khai báo tạm trú, tạm vắng tại địa phương. Tòa án tiến hành niêm yết công khai đồng thời thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định nhưng chị N không có mặt để làm việc và tham gia phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến của chị N.

Đối với các con của anh Trịnh Anh X là cháu Trịnh Hoàng A và Trịnh Hoàng B còn nhỏ đi theo mẹ. Quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự thông qua người đại diện là chị N thực hiện.

Về thẩm định tài sản thế chấp: Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất được đăng ký thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đứng tên anh Trịnh Anh X.

Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất diện tích 91 m² có vị trí tứ cận:

  • Phía Bắc giáp sông T số đo 7 m;

  • Phía Nam giáp đường quốc lộ 10 số đo 7 m;

  • Phía Đông giáp thửa 505 số đo 13 m;

  • Phía Tây giáp Trạm bơm Đại Hữu số đo 13 m.

* Kiểm tra hiện trạng tài sản trên đất: 01 ngôi nhà 04 tầng anh X đã xây lấn chiếm đất lưu không đua về phía bắc 3 m (diện tích 21 m²); đua ra phía tây 1,5 m (diện tích 24m²), làm bán bình bằng tôn về đất lưu không giáp Quốc lộ A diện tích 119m².

Bản án KDTM sơ thẩm số 10/2024/KDTM -ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:

  • Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 42; Điều 144; Điều 158; khoản 2 Điều 180; Điều 188; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

  • Căn cứ các Điều 299, 317, 318, 320, 322, 323, khoản 8 Điều 372; 463, 466, 470; 613; 615; 651 Bộ luật Dân sự;

  • Căn cứ các Điều 90, 91, 95, 98 Luật tổ chức tín dụng;

  • Điều 13 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á (A1).

Buộc ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N có nghĩa vụ liên đới trả toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Á số tiền 2.420.629.165 đồng. Trong đó nợ gốc là 1.863.344.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 64.591.530 đồng, lãi quá hạn là 463.386.617 đồng, phạt chậm trả lãi 29.307.018 đồng trong phạm vi di sản thừa kế của anh Trịnh Anh X.

Kể từ ngày 16/8/2024 ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc còn lại đến khi trả hết nợ theo mức lãi

6

suất thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng số BIS.CN.3512.280420 ngày 28/4/2020. Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số BIS.CN. 3305.140421 ngày 15/4/2021; Hợp đồng cấp tín dụng số BIS.CN.4331.280421 ngày 29/4/2021. Các khế ước nhận nợ Số [...], ngày 11/5/2020; Khế ước Số [...], ngày 13/10/2022; Khế ước Số [...], ngày 14/10/2022; Khế ước Số [...], ngày 17/10/2022 trong phạm vi di sản thừa kế của anh Trịnh Anh X.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP Á trong phạm vi di sản của anh X thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự huyện H phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ là Quyền sử dụng 91 m² đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số CV 798824, số vào sổ cấp GCN: CH 05925 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp này 17/4/2020 đứng tên anh Trịnh Anh X theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số BIS.BĐCN.255.280420 được công chứng tại Văn phòng C ngày 28/4/2020, số công chứng 971; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H ngày 29/4/2020. Do đó trong trường hợp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì xử lý Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của anh Trịnh Anh X theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần tài sản trên đất được cấp giấy chứng nhận.

Đối với phần đất xây dựng lấn chiếm tại khu nhà chính là ngôi nhà 04 tầng anh X đã xây lấn chiếm trên đất lưu không đua về phía bắc 3 m (diện tíc 21 m²); đua ra phía tây 1,5 m (diện tích 24m²), làm bán bình bằng tôn kết cấu thép về đất lưu không giáp Quốc lộ A diện tích 119m² là đất thuộc nhà nước quản lý nên trường hợp bị kê biên phát mại được xử lý khi nhà nước có chủ trương thu hồi theo quy định.

Số tiền phát mại tài sản bảo đảm thu được sau khi trả nợ cho Ngân hàng nếu còn thừa sẽ trả lại cho bên thế chấp ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N, cháu Trịnh Hoàng B, Trịnh Hoàng A theo quan hệ pháp luật thừa kế.

Trường hợp ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại cho ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 798824, số vào sổ cấp GCN: CH 05925 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp này 17/4/2020 đứng tên ông Trịnh Anh X

Về chi phí tố tụng: Về chi phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng số tiền (8.400.000 đồng) nguyên đơn phải chịu theo quy định.

Chi phí thẩm định tài sản số tiền 5.000.000 đồng buộc các bị đơn phải liên đới hoàn trả lại cho ngân hàng trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện. Trường hợp không thực hiện thì buộc hoàn trả khi xử lý tài sản thế chấp.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về quyền thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

7

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/8/2024 người đại diện Ngân hàng TMCP Á có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm

Ngày 20/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc ban hành văn bản kháng nghị số 02/QĐVKS-KDTM kháng nghị với nội dung: Kháng nghị một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2024/KDTM-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa theo thủ tục phúc thẩm đối với phần quyết định “phạt chậm trả lãi" và phần án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm của phần “phạt chậm trả lãi".

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nêu trên theo hướng: Không chấp nhận một phần đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với yêu cầu buộc ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L và chị Từ Thị N phải chịu phần “lãi phạt chậm trả lãi” và không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với số tiền “lãi phạt chậm trả lãi”.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, và thay đổi nội dung kháng cáo với các nội dung: Xem xét về tư cách tố tụng đối với 02 con của anh X là cháu Trịnh Hoàng A và Trịnh Hoàng B, buộc các cháu phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng trong phạm vi thừa kế của anh X; Về chi phí tố tụng đề nghị Toà án buộc bị đơn phải chịu, Về Tài sản thế chấp tuyên Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự huyện H kê biên, phát mại toàn bộ tài sản thế chấp của anh X.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị

Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự, tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung và quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Sửa quyết định của bản án KDTM sơ thẩm 10/2024/KDTM -ST ngày huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa về không chấp nhận yêu cầu lãi phạt chậm trả lãi của Ngân hàng TMCP Á., S phần án phí KDTM sơ thẩm.

Về án phí KDTM phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí KDTM phúc thẩm theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến, tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

8

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của người vay anh anh Trịnh Anh X phải thanh toán các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng, theo các hợp đồng được ký kết giữa các bên, phía anh Trịnh Anh X vay vốn với mục đích kinh doanh, nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Thanh Hóa thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc có Quyết định kháng nghị trong hạn, các đương sự không thỏa thuận, hòa giải được với nhau nội dung tranh chấp, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, VKSND huyện Hậu Lộc Vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của Ngân hàng TMCP Á:

[2.1] Về tư cách người tham gia tố tụng: Anh Trịnh Anh X là người trực tiếp vay vốn ký các hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ với Ngân hàng TMCP Á nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Trịnh Anh X đã chết, vì vậy không trả được nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Do anh Trịnh Anh X chết trước khi Ngân hàng TMCP Á có đơn khởi kiện nên xác định những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Trịnh Anh X gồm: ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L (là bố mẹ đẻ), chị Từ Thị N (là vợ) tham gia vụ án với tư cách là bị đơn. Cháu Trịnh Hoàng A, Trịnh Hoàng B (là con đẻ của anh X) nhưng do các cháu Trịnh Hoàng A, Trịnh Hoàng B còn nhỏ. Trách nhiệm và nghĩa vụ dân sự do người đại diện ( Chị N là mẹ đẻ) thực hiện nên cháu Hoàng A, Hoàng B tham gia trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan .

Vì vậy Toà án cấp sơ thẩm xác định tư cách người tham gia tố tụng có căn cứ đúng quy định pháp luật. Do vậy kháng cáo của Ngân hàng TMCP Á về nội dung này không có căn cứ không được chấp nhận.

[2.2]. Về tiền chi phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng số tiền (8.400.000 đồng) . Trong vụ án này do chị Từ Thị N là bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú nên Toà án phải làm thủ tục đăng tin thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Theo quy định Bộ Luật Tố tụng dân sự thì đây là chi phí tố tụng khác nguyên đơn phải chịu. Vì vậy Toà án cấp sơ thẩm buộc Ngân hàng TMCP Á phải chịu khoản tiền này là đúng quy định. Do đó kháng cáo của Ngân hàng Á về nội dung này không có căn cứ không được chấp nhận.

[2.3]. Về tài sản thế chấp: Toà án cấp sơ thẩm tuyên: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP Á trong phạm vi di sản của anh X thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi

9

hành án dân sự huyện H phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ là Quyền sử dụng 91 m² đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số CV 798824, số vào sổ cấp GCN: CH 05925 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp này 17/4/2020 đứng tên anh Trịnh Anh X theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số BIS.BĐCN.255.280420 được công chứng tại Văn phòng C ngày 28/4/2020, số công chứng 971; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H ngày 29/4/2020. Do đó trong trường hợp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì xử lý Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của anh Trịnh Anh X theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần tài sản trên đất được cấp giấy chứng nhận.

Đối với phần đất xây dựng lấn chiếm tại khu nhà chính là ngôi nhà 04 tầng anh X đã xây lấn chiếm trên đất lưu không đua về phía bắc 3 m (diện tíc 21 m²); đua ra phía tây 1,5 m (diện tích 24m²), làm bán bình bằng tôn kết cấu thép về đất lưu không giáp Quốc lộ A diện tích 119m² là đất thuộc nhà nước quản lý nên trường hợp bị kê biên phát mại được xử lý khi nhà nước có chủ trương thu hồi theo quy định.

Số tiền phát mại tài sản bảo đảm thu được sau khi trả nợ cho Ngân hàng nếu còn thừa sẽ trả lại cho bên thế chấp ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N, cháu Trịnh Hoàng B, Trịnh Hoàng A theo quan hệ pháp luật thừa kế.

Trường hợp ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại cho ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 798824, số vào sổ cấp GCN: CH 05925 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp này 17/4/2020 đứng tên ông Trịnh Anh X.

Việc Toà án cấp sơ thẩm tuyên như trên là có căn cứ đúng quy định pháp luật vì vậy yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP Á về nội dung này là không có căn cứ không được chấp nhận.

[3] Về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc :

[3.1]. Đối với khoản lãi phạt chậm trả lãi mà Ngân hàng TMCP Á yêu cầu bị đơn phải trả 29.307.018 đồng. Theo điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì: "Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn". Tại điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: "Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả". Phần lãi chậm trả tính trên số dư lãi chậm trả trong hạn phù hợp với điểm a khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy Ngân hàng TMCP Á khơi kiện buộc bị đơn trả số tiền phạt chậm trả lãi là có căn cứ được chấp nhận. Tuy nhiên số tiền phạt chậm trả lãi 29.307.018 đồng Ngân hàng TMCP

10

Á buộc bị đơn trả là không chính xác mà chỉ được tính chỉ được tính phạt chậm trả lãi không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Số tiền chậm trả lãi có căn cứ theo quy định được chấp nhận là 8.393.166 đồng. Số tiền còn lại không được chấp nhận là 20.913.852 đồng.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc cho rằng Ngân hàng TMCP Á khơi kiện buộc bị đơn trả số tiền phạt chậm trả lãi 29.307.018 đồng là vi phạm Điều 8 và điều 12 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP vì Viện kiểm sát cho rằng nếu tính cả lãi phạt chậm trả lãi như vậy là lãi chồng lãi. Xét thấy đây là vụ án Kinh doanh thương mại, Hợp đồng tín dụng ký kết vào năm 2020, 2021 nên áp dụng khoản 2 Điều 8 Điều 7 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP, Luật các tổ chức tín dụng, điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 nên trường hợp này vẫn được tính phạt chậm trả lãi. Vì vậy kháng nghị của VKS huyện H và quan điểm của Viện kiểm sát về nội dung này là chưa chính xác. Tuy nhiên số tiền phạt chậm trả lãi 29.307.018 đồng mà Ngân hàng TMCP Á yêu cầu bị đơn phải trả là chưa chính xác mà chỉ có căn cứ chấp nhận số tiền 8.393.166 đồng. Số tiền còn lại không được chấp nhận là 20.913.852 đồng. Vì vậy cần phải sửa phần lãi phạt chậm trả lãi của bản án sơ thẩm. Do vậy chấp nhận một phần kháng nghị đối với khoản tiền phạt chậm trả lãi.

[3.2] Đối với án phí về lãi phạt chậm trả lãi :Do số tiền lãi phạt chậm trả lãi bị sửa nên cần sửa án phí đối với khoản tiền này, do vậy kháng nghị của Viện kiểm sát về nội dung này là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.3] Về án phí:

Đối với án phí sơ thẩm: Do số tiền lãi phạt chậm trả lãi bị sửa và chỉ có căn cứ chấp nhận buộc các bị đơn phải chịu lãi phạt chậm trả lãi số tiền 8.393.166 đồng. Như vậy các bị đơn gồm ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N phải liên đới chịu số tiền án phí KDTM sơ thẩm 80.004.866 đồng của tổng số tiền phải trả Ngân hàng TMCP Á 2.400.243.333 đồng cụ thể ông D, bà L, chị N mỗi người phải chịu số tiền án phí 26.668.288 đồng. Do ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L là người cao tuổi, tại cấp phúc thẩm ông D, bà L có đơn xin miễn tiền án phí, Căn cứ vào Luật người cao tuổi, điểm d khoản 1 Điều 18 Nghị Quyết 3262016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Miễn tiền án phí cho ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, Đối với chị Từ Thị N do điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên giảm cho chị 50% tiền án phí như cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ như vậy chị N còn phải chịu số tiền án phí 13.334.000 đồng ( làm tròn số).

Ngân hàng TMCP Á phải chịu số tiền án phí 1.045.600 đồng ( làm tròn số) đối với số tiền lãi phạt chậm trả lãi không được chấp nhận 20.913.852 đồng.

Về án phí phúc thẩm:

Ngân hàng TMCP Á không được chấp nhận đơn kháng cáo, do đó căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Ngân hàng Á phải chịu án phí KDTM phúc thẩm 2.000.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí KDTM phúc thẩm 2.000.000 đồng Ngân hàng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

11

[4]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: vào Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 299; Điều 317,318; 319; 320; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự ; của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 1,2,3,4,9 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án .

Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Á

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc.

Sửa bản án KDTM sơ thẩm số 10/2024/KDTM-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á Châu

Buộc ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N có nghĩa vụ liên đới trả toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Á số tiền 2.400.243.333 đồng. Trong đó nợ gốc là 1.863.344.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 64.591.530 đồng, lãi quá hạn là 463.386.617 đồng, phạt chậm trả lãi 8.393.166 đồng trong phạm vi di sản thừa kế của anh Trịnh Anh X.

Kể từ ngày 16/8/2024 ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc còn lại đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng số BIS.CN.3512.280420 ngày 28/4/2020. Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số BIS.CN. 3305.140421 ngày 15/4/2021; Hợp đồng cấp tín dụng số BIS.CN.4331.280421 ngày 29/4/2021. Các khế ước nhận nợ Số [...], ngày 11/5/2020; Khế ước Số [...], ngày 13/10/2022; Khế ước Số [...], ngày 14/10/2022; Khế ước Số [...], ngày 17/10/2022 trong phạm vi di sản thừa kế của anh Trịnh Anh X.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP Á trong phạm vi di sản của anh X thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự huyện H phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ là Quyền sử dụng 91 m² đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số CV 798824, số vào sổ cấp GCN: CH 05925 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp này 17/4/2020 đứng tên anh Trịnh Anh X theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số BIS.BĐCN.255.280420 được công chứng tại Văn phòng C ngày 28/4/2020, số công chứng 971; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H ngày 29/4/2020. Do đó trong trường hợp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì xử lý Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của anh Trịnh Anh X theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần tài sản trên đất được cấp giấy chứng nhận.

12

Đối với phần đất xây dựng lấn chiếm tại khu nhà chính là ngôi nhà 04 tầng anh X đã xây lấn chiếm trên đất lưu không đua về phía bắc 3 m (diện tíc 21 m²); đua ra phía tây 1,5 m (diện tích 24m²), làm bán bình bằng tôn kết cấu thép về đất lưu không giáp Quốc lộ A diện tích 119m² là đất thuộc nhà nước quản lý nên trường hợp bị kê biên phát mại được xử lý khi nhà nước có chủ trương thu hồi theo quy định.

Số tiền phát mại tài sản bảo đảm thu được sau khi trả nợ cho Ngân hàng nếu còn thừa sẽ trả lại cho bên thế chấp ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N, cháu Trịnh Hoàng B, Trịnh Hoàng A theo quan hệ pháp luật thừa kế.

Trường hợp ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại cho ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 798824, số vào sổ cấp GCN: CH 05925 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp này 17/4/2020 đứng tên ông Trịnh Anh X

Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP Á phải chịu chi phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng số tiền 8.400.000 đồng .

Chi phí thẩm định tài sản số tiền 5.000.000 đồng buộc các bị đơn phải liên đới hoàn trả lại cho ngân hàng TMCP Á .

Đối với án phí sơ thẩm: Các bị đơn gồm ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L, chị Từ Thị N phải liên đới chịu số tiền án phí KDTM sơ thẩm 80.004.866 đồng của tổng số tiền phải trả Ngân hàng TMCP Á 2.400.243.333 đồng cụ thể Ông D, bà L, chị N mỗi người phải chịu số tiền án phí 26.668.288 đồng. Do ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L là người cao tuổi, tại cấp phúc thẩm ông D, bà L có đơn xin miễn tiền án phí, Căn cứ vào Luật người cao tuổi, điểm d khoản 1 Điều 18 Nghị Quyết 3262016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Miễn tiền án phí cho ông Trịnh Xuân D, bà Hoàng Thị L,

Chị Từ Thị N do điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên giảm cho chị 50% tiền án phí, chị N phải chịu số tiền án phí 13.334.000 đồng ( làm tròn số).

Ngân hàng TMCP Á phải chịu số tiền án phí 1.045.600 đồng ( làm tròn số) đối với số tiền lãi phạt chậm trả lãi không được chấp nhận 20.913.852 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 36.930.000 đồng Ngân hàng TMCP Á đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc theo biên lai số 0003229 ngày 08/4/2024.

Về án phí phúc thẩm:

Ngân hàng TMCP Á không được chấp nhận đơn kháng cáo, do đó căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Ngân hàng Á phải chịu án phí KDTM phúc thẩm 2.000.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí KDTM phúc thẩm 2.000.000 đồng Ngân hàng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003371 ngày 17/9/2024.

13

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND huyện Hậu Lộc;
  • -VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/KDTM - PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 18/2024/KDTM - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần () Á (A1) - Trịnh Xuân D "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger