Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/KDTM-PT

Ngày: 13/12/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng thi công”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.
  • Các thẩm phán: Bà Đỗ Thị Nhung.
  • Ông Trần Vĩnh Yên.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ngọc Châu – Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
  • Bà Nguyễn Thị Bình – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06/12/2024 và 13/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2024/TLPT-KDTM ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 13/2024/KDTM-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 46/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 47/2024/QĐPT-KDTM ngày 06 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Công ty TNHH T2.
  • Địa chỉ trụ sở: Số C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hùng S, sinh năm 1984 – Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông S (Theo văn bản ủy quyền ngày 25/3/2023): Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1968; địa chỉ: Số C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)
  • - Bị đơn: Công ty TNHH Một thành viên X.
  • Địa chỉ trụ sở: Số A, đường F, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1983 – Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 (Theo Giấy ủy quyền số 15/UQ-CT ngày 12/6/2024): Bà Trần Thị Phương C, sinh năm 1999; địa chỉ: Số A, Phạm Thị N, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của Công ty TNHH T2; bản tự khai cũng như lời trình bày tại các biên bản hòa giải và tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T2:

Vào ngày 11/11/2020, Công ty TNHH T2 (Công ty T2) và Công ty TNHH MTV X (Công ty X) có ký kết Hợp đồng thi công san lấp mặt bằng số 01/HĐTC/TTA-PTM ngày 11/11/2020. Theo đó, Công ty X giao cho Công ty T2 thực hiện thi công san lấp mặt bằng dự án Cảng quốc tế M - Khu Công nghiệp M, thị trấn P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, diện tích san lấp là 45hecta, thời gian thi công dự kiến từ ngày 01/11/2020, thời hạn hoàn thành và bàn giao công trình trong vòng 99 ngày kể từ ngày khởi công. Giá trị hợp đồng là 30 tỷ đồng và khi Công ty T2 bắt đầu san lấp thì Công ty X đã tạm ứng cho Công ty T2 số tiền 1.500.000.000 đồng.

Thực hiện theo hợp đồng, Công ty T2 đã san lấp 56.289,11m³ cát, trị giá 3.377.346.600 đồng. Hai bên thống nhất và nghiệm thu số lượng đến ngày 24/12/2020, đồng thời Công ty X cũng đã tạm ứng cho Công ty T2 nhiều lần với tổng số tiền là 2.800.000.000 đồng. Do vậy nên số công nợ theo tính toán thì Công ty X còn chưa thanh toán cho Công ty T2 là 577.346.600 đồng. Tuy nhiên, vì sổ theo dõi lũy kế có 02 chuyến hàng vào ngày 24/12/2020 không có chữ ký xác nhận của bên nhận hàng (tương ứng với khối lượng 1.942,84m³ x 60.000 đồng = 116.570.400 đồng) nên Công ty T2 điều chỉnh lại công nợ, xác định lại số tiền Công ty X còn chưa thanh toán cho Công ty T2 là 431.255.600 đồng.

Sau nhiều lần yêu cầu Công ty X đối chiếu công nợ và thanh toán số tiền trên nhưng Công ty X không hợp tác nên Công ty T2 khởi kiện yêu cầu Công ty X phải thanh toán các khoản tiền sau:

  • - Công nợ chưa thanh toán là 431.255.600 đồng.
  • - Tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán được tính từ ngày 25/5/2023 đến ngày 31/5/2024 (làm tròn 12 tháng) là 36.657.000 đồng (431.255.600 đồng x 8,5% = 36.657.000 đồng).

Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Công ty T2 tự nguyện rút một phần yêu cầu về việc phạt hợp đồng với số tiền là 21.562.780 đồng (mức 5% x 431.255.600 đồng).

* Theo ông Nguyễn Đức T1 - Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV X trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm; lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV X tại phiên tòa phúc thẩm:

Giữa Công ty X và Công ty T2 có ký kết Hợp đồng số 01/HĐTC/TTA-PTM vào ngày 11/11/2020. Theo hợp đồng thì Công ty T2 thực hiện việc san lấp mặt bằng cho Công ty X, tuy nhiên quá trình thi công do Công ty T2 không đủ năng lực nên hai bên đã ngưng hợp đồng giữa chừng, do vậy Công ty X không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty T2. Với các chứng từ Công ty T2 cung cấp, Công ty X nhận thấy không đúng và nhiều lần yêu cầu Công ty T2 đối chiếu lại nhưng Công ty T2 luôn né tránh.

Theo nội dung hợp đồng thì hồ sơ đề nghị thanh toán phải có đơn (đơn đề nghị thanh toán), hóa đơn giá trị gia tăng, biên bản xác nhận thi công đủ 50.000m³ nhưng do phía Công ty X không nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị thanh toán nên theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng thì Công ty T2 là bên vi phạm. Công ty X thừa nhận đã tạm ứng cho Công ty T2 số tiền 2.800.000.000 đồng, tuy nhiên Công ty X không đồng ý với khối lượng cát như phía Công ty T2 cung cấp, Công ty X xác định số tiền chưa thanh toán chỉ còn hơn một trăm triệu đồng chứ không như số tiền Công ty T2 khởi kiện. Do vậy, Công ty X không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Công ty T2.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 13/2024/KDTM-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã căn cứ Điều 30, 203, 217, 220, 227, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 24, 50, 55 của Luật Thương mại năm 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng tương ứng số tiền 21.562.780 đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm tám mươi đồng) do nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T2. Buộc bị đơn Công ty TNHH Một thành viên X có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Công ty TNHH T2 số tiền 431.255.600 đồng (Bốn trăm ba mươi mốt triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm đồng).
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tiền lãi chậm thanh toán với số tiền 36.657.000 đồng (Ba mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14/6/2024, Công ty TNHH Một thành viên X có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 13/2024/KDTM-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T2.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, do đại diện Công ty T2 đồng ý trừ 01 chuyến hàng (1.101,6m³ cát) vào ngày 03/12/2020 và 02 chuyến hàng (1.602,27m³) vào ngày 09/12/2020 cho Công ty X tương ứng với số tiền 162.205.800 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm, buộc Công ty X phải trả cho Công ty T2 số tiền 269.049.800 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH Một thành viên X trong hạn luật định. Đồng thời, Công ty TNHH Một thành viên X cũng đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.
  3. Về nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Công ty X trình bày sau khi đối chiếu giữa phiếu xuất kho và bảng kê nhật ký theo dỏi số lượng cát bơm hằng ngày tại công trình do Công ty T2 cung cấp, Công ty X xác định có 01 phiếu xuất kho và 02 chuyến cát bơm tại bảng kê nhật ký không đúng với thực tế. Cụ thể, phiếu xuất kho vào ngày 03/12/2020 không thể hiện việc Công ty X có nhận 1.101,6m³ cát, ngoài ra theo bảng kê nhật ký công trình thể hiện vào ngày 09/12/2020, Công ty T2 có bơm 02 xà lan cát với tổng khối lượng là 1.602,27m³ nhưng lại không có phiếu xuất kho của Công ty T2 nên đại diện Công ty X đề nghị Công ty T3 03 chuyến hàng trên tương ứng với số tiền 162.205.800 đồng cho Công ty X. Do đại diện Công ty T2 cũng đồng ý với yêu cầu của đại diện Công ty X nên Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận, vì vậy số tiền còn buộc Công ty X phải trả cho Công ty T2 là 269.049.800 đồng.

  1. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty T2 phải chịu số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) đối với yêu cầu không được chấp nhận.

Công ty X chỉ còn phải chịu với số tiền là 13.452.500 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng).

  1. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do kháng cáo của Công ty X được chấp nhận nên Công ty X không phải chịu. Hoàn trả lại cho Công ty X số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0004426 ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
  2. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Một thành viên X. Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 13/2024/KDTM-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ Điều 30, 203, 217, 220, 227, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 24, 50, 55 của Luật Thương mại năm 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T2 đối với Công ty TNHH Một thành viên X về việc yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng số tiền 21.562.780 đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm tám mươi đồng).
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T2. Buộc Công ty TNHH Một thành viên X phải có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH T2 số tiền 269.049.800 đồng (Hai trăm sáu mươi chín triệu không trăm bốn mươi chín nghìn tám trăm đồng).
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T2 đối với Công ty TNHH Một thành viên X về tiền lãi chậm thanh toán với số tiền 36.657.000 đồng (Ba mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi bảy nghìn đồng).
  4. Án phí KDTM-ST:
    1. Công ty TNHH T2 phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Trừ vào số tiền 17.437. 000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí Công ty TNHH T2 đã nộp tại các biên lai thu số 0007455 ngày 25/4/2023 và 0008755 ngày 07/9/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, số tiền tạm ứng án phí còn hoàn trả lại cho Công ty TNHH T2 là 14.437.000 đồng (Mười bốn triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
    2. Công ty TNHH Một thành viên X phải chịu 13.452.500 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng).
  5. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP . Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/KDTM-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Số bản án: 18/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH T2 - Công ty TNHH MTV X - Tranh chấp hợp đồng thi công
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger