|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN MANG YANG TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 31-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Nam Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Kiên và bà Nguyễn Thị Định
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Bửu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T
Sinh ngày 28/11/2003 tại tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: thợ cửa sắt; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Minh T1 và bà Ngô Thị Ngọc H. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Đặng Phi T2, sinh ngày: 09/02/2007 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Đặng Phi T2: Ông Đặng Ngọc T3, sinh năm: 1977 (Cha đẻ của bị hại Đặng Phi T2).
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai.
(có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Ông Phạm Minh T1; sinh năm: 1981.
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai
(có mặt) -
Bà Ngô Thị Ngọc H, sinh năm: 1981.
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai
(có mặt)
Người làm chứng:
-
Phan Khắc T4, sinh năm 2004
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt) -
Trần Gia N, sinh năm 2006
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai (vắng mặt) -
Tào Dương Minh T5, sinh năm 2004
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai
(vắng mặt) -
Hồ Sỹ Q, sinh năm 2004
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai
(vắng mặt) -
Bùi Quốc K, sinh năm 2006
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 29/9/2023, bị cáo Phạm Văn T tự ý lấy xe mô tô BKS 77D1–618.97 của cha là ông Phạm Minh T1 điều khiển chở Đặng Phi T2 cùng Phan Khắc T4 chở vợ đi từ thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai đến thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai để xem múa lân.
Sau khi xem múa lân xong khoảng 22 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô BKS 77D1–618.97 chở Đặng Phi T2 đi từ thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai về lại nhà tại thôn N, xã Đ huyện M, tỉnh Gia Lai. Khi đi đến khu vực K+500m Quốc lộ A thuộc thôn Đ, xã A, huyện M, tỉnh Gia Lai thì T tăng tốc độ để đuổi theo xe mô tô do Trần Gia N và Bùi Quốc K điều khiển phía trước cùng chiều. Khi thấy có xe tải chạy ngược chiều thì T chạy vượt xe K và nghĩa nên đã tông vào lan can bên trái đường. Hậu quả Đặng Phi T2 chết; T bị thương; Xe mô tô BKS 77D1–618.97 bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường cho thấy: Toàn bộ dấu vết cày trượt và phương tiện liên quan đều nằm trên làn đường bên trái (hướng từ thành phố P đi Thị xã A); tại hiện trường phát hiện 01 trụ cọc tiêu cũ bị gãy, bể vỡ do va đập. (BLS: 18-23)
Kết luận giám định tử thi số: 882/KLGĐTT-KTHS ngày 13/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh G kết luận: Các kết quả chính: Mô cơ dưới da không phát hiện bầm tụ máu; Máu bên trong lòng khí quản và bọt hồng trào ra nhiều; Vùng mặt biến dạng, sờ nắn xương gò má và xương hàm ghi nhận lạo xạo xương; Miệng ngậm, môi dưới (niêm mạc miệng) dập, rách trong diện (02x01)cm, răng số 1,2 hàm dưới bên phải bị gãy, răng số 1,2 hàm trên trái bị gãy, răng số 1,2 hàm dưới bên trái bị gãy. Kết luận: Nguyên nhân Đặng Phi T2 chết: Tắc nghẽn hô hấp. (BLS: 88-89)
Kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M kết luận giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS 77D1-618.97 sau tai nạn là 1.207.000 đồng. (BLS: 58-60)
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 60/KLTTCT-TTPY ngày 05/3/2024 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh G kết luận: Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn T tại thời điểm giám định là: 81%. (BLS: 105-107)
Về kiểm tra chất kích thích đối với người điều khiển phương tiện: Hồ sơ bệnh án trong quá trình điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh G không thể hiện kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Phạm Văn T; lời khai của T và những người làm chứng cho thấy trước khi tham gia giao thông ngày 29/9/2023 T không sử dụng ma túy, không sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích khác. (BLS: 47, 76-77; 83)
* Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô BKS 77D1- 618.97; số máy KC34E1125281; số khung 3710LY024238. Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS 77D1-618.97 và các giấy tờ liên quan đến xe mô tô thuộc sở hữu của ông Phạm Minh T1 (Sinh năm: 1981) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định pháp luật. (BLS: 51-52)
* Về bồi thường dân sự:
Ngày 05/12/2023, bị cáo Phạm Văn T và ông Phạm Minh T1 đã bồi thường, khắc phục hậu quả, hỗ trợ chi phí mai táng số tiền là 55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng) cho ông Đặng Văn T6 (Sinh năm: 1977) và Mạc Thị E (Sinh năm: 1978) cùng trú thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai – là cha ruột, mẹ ruột của Đặng Phi T2. Ngày 05/12/2023, ông Đặng Văn T6 và bà Mạc Thị E đã làm Đơn xin bãi nại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự đối với vụ án trên, xin giảm nhẹ cho Phạm Văn T. (BLS: 68, 72)
Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không ai có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Điều tra viên Công an huyện M, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ như các biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định của cơ quan giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Chiều ngày 29/9/2023, Phạm Văn T (không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 77D1-618.97 chở vợ đi từ thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai đến thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai để xem múa lân, sau khi xem múa lân xong khoảng 22 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô BKS 77D1-618.97 chở Đặng Phi T2 đi từ thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai về lại nhà tại Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Khi đến khu vực Km 127+500m Quốc lộ A thuộc thôn Đ, xã A, huyện M, tỉnh Gia Lai thì T tăng tốc độ để đuổi theo xe mô tô do Trần Gia N và Bùi Quốc K điều khiển phía trước cùng chiều, Khi có xe tải chạy ngược chiều thì T chạy vượt xe K và N nên đã tông vào lan can bên trái đường. Hậu quả Đặng Phi T2 chết, T bị thương; xe mô tô BKS 77D1-618.97 bị hư hỏng. Lỗi gây ra tai nạn là do bị cáo T điều khiểu xe mô tô BKS 77D1-618.97 có dung tích xi lanh 149cm³ không có giấy phép lái xe theo quy đinh, điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường, thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ, vượt xe không đảm bảo, lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi đã vi phạm khoản 9, 23 điều 8; khoản 1 điều 9; khoản 2, 5 điều 14 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả làm 01 người chết. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn T là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội nghiêm trọng với lỗi vô ý, bị cáo nhận thức được không có giấy phép lái xe là trái với quy định pháp luật vẫn điều khiểu phương tiện giao thông đã xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, gây thiệt đến tính mạng của người khác, đồng thời còn gây tác động xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.
[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo và tại phiên Tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tích cực bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị hại thể hiện thái độ ăn năn hối cải đó là các tình tiết quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 điều 51 bộ luật hình sự. Mặt khác, tại phiên tòa gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo bị tổn thương cơ thể 81%.
[6] Về hình phạt: Bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định tương ứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Bị cáo vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây tai nạn nghiêm trọng, hậu quả làm chết một người, gây hậu quả nặng nề đối với gia đình bị hại và xã hội. Tuy nhiên bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo hiện vẫn đang điều trị do vụ tai nạn gây ra trước đó. Xét các bị cáo có khả năng tự cải tạo được và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành phạt tù giam thì không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đủ để giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Việt Nam.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng trong vụ án đã được Cơ quan CSĐT - Công an huyện M xử lý đúng trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
1. Về tội danh và hình phạt: Áp dung vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án
Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
-
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- 3. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (31/5/2024) bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Nam Trung |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tp. Trung
