TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 10-7-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hứa Văn Hòa.
Bà Liễu Thị Kim Duyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Nam Toàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Chu Xuân Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Triệu Văn Đ, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1996 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn V và bà Dương Thị L; vợ Hoàng Thị X và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử phạt vi phạm hành chính; bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 29/01/2024 đến ngày 01/02/2024, thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
2. Triệu Văn H, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2000 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn K và bà Hoàng Thị Í; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/8/2020 bị Công an xã Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau bằng hình thức phạt tiền, đã chấp hành xong; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
3. Hoàng Văn Đ1, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2000 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Q và bà Hoàng Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 29/01/2024 đến ngày 01/02/2024, thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
4. Dương Trung H1, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1999 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Sỹ C và bà Đặng Thị T1; vợ Lý Thị Đ2 và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 29/01/2024 đến ngày 01/02/2024, thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
5. Triệu Văn H2, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2004 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn B và bà Lý Thị L1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
6. Triệu Văn Đ3, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1997 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn D và bà Dương Thị L2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/6/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Gia xét xử 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội Đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
7. Đặng Văn S, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1962 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 01/10; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Nguyên T2 và bà Triệu Thị N; vợ Triệu Thị C1 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
8. Triệu Văn T3, sinh ngày 28 tháng 7 năm 2000 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn T4 và bà Đặng Thị T5; vợ Triệu Thị N1 và 01 người con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
9. Lâm Văn T6, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1992 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn H3 và bà Vy Thị N2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/3/2021 bị Công an xã Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền, đã chấp hành xong; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
10. Triệu Văn T7, sinh ngày 14 tháng 01 năm 1980 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn V1 và bà Nguyễn Thị L3; vợ Đặng Thị Q1 và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
11. Triệu Văn C2, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1993 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn T8 và bà Đặng Thị K1; vợ Đặng Thị M và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
12. Dương Văn K2, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2002 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Q2 và bà Triệu Thị T9; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
13. Triệu Văn Q3, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1998 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn P và bà Triệu Thị C3; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
14. Lý Văn T10, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1986 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Tài T11 và bà Lý Thị P1; vợ Đặng Thị Q4 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
15. Triệu Văn T12, sinh ngày 04 tháng 8 năm 1983 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Kim T13 và bà Dương Thị Q5; vợ Triệu Thị S1 và 03 người con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
16. Dương Văn B1, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1989 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn S2 và bà Đặng Thị S3; vợ Lý Thị T14 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
17. Triệu Văn B2, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1990 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn L4 và bà Triệu Thị C4; vợ Lý Thị L5 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
18. Triệu Văn T15, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2005 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn H4 và bà Triệu Thị T9; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
19. Triệu Văn V2, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1998 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; không xác định được bố đẻ và con bà Triệu Thị X1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
20. Triệu Ngọc T16, sinh ngày 05 tháng 3 năm 1989 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn P2 và bà Triệu Thị T17; vợ Đặng Thị K3 và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Triệu Văn B2 là ông Hoàng N3 – Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/01/2024, sau khi ăn cơm mừng đầy tháng tại nhà Đặng Văn L6, sinh năm 1997, trú tại thôn K, xã Y, huyện B xong, các đối tượng Triệu Văn Đ, Dương Trung H1, Hoàng Văn Đ1, Dương Văn B1 thống nhất đánh bạc nên cùng nhau đến sân trường tiểu học K5, thuộc thôn K, xã Y để đánh bạc. Bị cáo Triệu Văn Đ lấy một chiếc kéo cắt vỏ bao thuốc lá Thăng Long thành 4 quân vị hình tròn, một mặt các quân vị màu trắng, một mặt quân vị màu vàng. Sau đó Triệu Văn Đ đến vị trí bãi rác của trường tiểu học K5, xã Y nhặt lấy 01 (một) bát và 01 (một) đĩa mang đến vị trí giữa sân trường tiểu học K5 đánh bạc. Triệu Văn Đ cho 04 quân vị đã chuẩn bị vào trong cái đĩa, úp chiếc bát lên trên che kín các quân vị, sau đó dùng tay xóc cho mọi người đánh bạc. Những người tham gia đánh bạc ban đầu gồm: Triệu Văn Đ, Dương Trung H1, Hoàng Văn Đ1, Dương Văn B1, Triệu Văn Đ3. Bị cáo Triệu Văn Đ cầm cái xóc cho mọi người đánh bạc được khoảng 04 – 05 ván bạc thì chuyển cho bị cáo Dương Trung H1 cầm cái xóc cho mọi người đánh bạc. Lúc này có thêm các đối tượng Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn T3, Đặng Văn S, Triệu Văn C2, Lý Văn T10, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2, Triệu Ngọc T16. Triệu Văn H2, Triệu Văn H, Triệu Văn Q3, Dương Văn K2, Triệu Văn T12. Các đối tượng thay nhau cầm cái, người cầm cái ban đầu là Triệu Văn Đ, sau đó Triệu Văn Đ chuyển cho Dương Trung H1, tiếp đó Dương Trung H1 chuyển cho Hoàng Văn Đ1 cầm cái. Hoàng Văn Đ1 cầm cái xóc cho mọi người đánh bạc được khoảng 10 ván thì chuyển cái cho Triệu Văn H. Các đối tượng đánh bạc đến 17 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an xã Y, huyện B phát hiện lập biên bản vụ việc tại chỗ gồm các đối tượng: Triệu Văn H, Triệu Văn H2, Đặng Văn S. Tang vật thu giữ trên chiếu bạc gồm: Số tiền 5.710.000 đồng (Năm triệu bảy trăm mười nghìn đồng); 01 (một) bộ bát đĩa bằng sứ màu trắng, 04 (bốn) quân vị hình tròn được làm bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng.
Kết quả điều tra xác định được các đối tượng đã sử dụng số tiền để đánh bạc như sau: Lâm Văn T6, sử dụng số tiền 200.000 đồng, Triệu Văn T7, sử dụng số tiền 200.000 đồng; Triệu Văn T3, sử dụng số tiền 400.000 đồng; Triệu Văn C5, sử dụng số tiền 200.000 đồng; Lý Văn T10, sử dụng số tiền 150.000 đồng; Triệu Văn B2, sử dụng số tiền 100.000 đồng; Triệu Văn V2, sử dụng số tiền 50.000 đồng; Triệu Ngọc T16, sử dụng số tiền 40.000 đồng; Triệu Văn T15, sử dụng số tiền 100.000 đồng. Triệu Văn H, sử dụng số tiền 100.000 đồng; Triệu Văn Đ3, sử dụng số tiền 280.000 đồng; Triệu Văn K4, sử dụng số tiền 200.000 đồng; Triệu Văn Q3, sử dụng số tiền 170.000 đồng; Dương Văn B1, 140.000 đồng). Triệu Văn T12, sử dụng số tiền 150.000 đồng. Dương Trung H1, sử dụng số tiền 100.000 đồng; Hoàng Văn Đ1, sử dụng số tiền 100.000 đồng; Triệu Văn Đ, sử dụng số tiền 300.000 đồng; Triệu Văn H2, sử dụng số tiền 3.800.000 đồng; Đặng Văn S sử dụng số tiền 600.000 đồng.
Tổng số tiền chứng minh được liên quan đến đánh bạc tại chiếu bạc trên là: 7.380.000 đồng.
Các đối tượng tự nguyện nộp lại số tiền, đồ vật liên quan đến đánh bạc gồm: Triệu Văn Đ, 300.000 đồng; Triệu Văn T3 300.000 đồng; Hoàng Văn Đ1 200.000 đồng; Dương Trung H1 500.000 đồng; Triệu Văn T15 100.000 đồng; Triệu Văn T12 150.000 đồng; Triệu Văn V2 50.000 đồng; Triệu Ngọc T16 40.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng nộp lại là: 1.640.000 đồng.
Tổng số tiền chứng minh các đối tượng sử dụng đánh bạc là 7.380.000 đồng nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra chỉ tạm giữ được 7.350.000 đồng. Còn số tiền 30.000 đồng, do các đối tượng bỏ chạy bị rơi, thất thoát. Ngày 02/02/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm số tiền 30.000 đồng xung quanh khu vực đánh bạc nhưng không có kết quả.
Các bị can đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, quy ước như sau: Phía bên trái người cầm cái là cửa chẵn, bên phải người cầm cái là cửa lẻ. Cửa lẻ gồm: Ba quân vị cùng màu vàng, một quân vị màu trắng và ngược lại; cửa chẵn gồm bốn quân vị trùng màu hoặc hai quân vị màu vàng, hai quân vị màu trắng. Sau khi người cầm cái cầm bát đĩa xóc xong, đặt bát đĩa xuống, mọi người tự do đặt tiền đánh bạc, cửa chẵn hay lẻ tùy ý (người cầm cái cùng tham gia đánh) đặt tiền xong người cầm cái trực tiếp mở bát hoặc một trong số những người tham gia đánh bạc mở bát. Người có kết quả trùng trên đĩa, thắng được gấp đôi số tiền đặt cược trước đó, người tham gia đánh bạc có kết quả không trùng thua, mất số tiền đặt cược trước đó. Người cầm cái cùng tham gia đánh bạc, người chơi tự do đặt cược với nhau. Kết thúc ván đánh người cầm cái tiếp tục xóc đĩa cho mọi người đánh ván tiếp theo.
Ngày 01/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lâm Văn T6; Triệu Văn T7; Triệu Văn Đ; Triệu Văn T3; Triệu Văn H2; Triệu Văn H; Đặng Văn S; Triệu Văn C2; Lý Văn T10; Triệu Văn B2; Hoàng Văn Đ1; Triệu Văn Đ3; Dương Văn K2; Triệu Văn Q3; Dương Văn B1; Dương Trung H1; Triệu Văn T15; Triệu Văn T12; Triệu Văn V2; Triệu Ngọc T16 về tội đánh bạc.
Tại Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-BG ngày 24/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận, hành vi đánh bạc như Cáo trạng truy tố ra trước Tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không bị ép cung, bức cung, nhục hình trong quá trình điều tra, truy tố, ngoài các bị cáo trong vụ án không có ai khác tham gia đánh bạc.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 phạm tội Đánh bạc:
- Hình phạt chính:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt: Bị cáo Triệu Văn Đ3 từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02- 03 năm.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt các bị cáo: Lâm Văn T6; Dương Trung H1; Triệu Văn Đ; Triệu Văn H; Triệu Văn T3; Triệu Văn H2; Đặng Văn S; Hoàng Văn Đ1; Triệu Văn T7; Triệu Văn C2; Dương Văn K2 từ 06 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 24 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt các bị cáo: Dương Văn B1; Lý Văn T10; Triệu Văn B2; Triệu Văn V2; Triệu Ngọc T16; Triệu Văn T15; Triệu Văn T12; Triệu Văn Q3 từ 06 - 12 tháng cải tạo không giam giữ.
- Về khấu trừ thu nhập: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi người đó cư trú để giám sát giáo dục.
- Hình phạt bổ sung: Qua xác minh về điều kiện kinh tế tại địa phương các bị cáo đều có điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, hơn nữa các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước:
+ Số tiền 7.350.000 đồng đang tạm gửi trong tài khoản tạm gửi của Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Đây là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bát con bằng sứ, màu trắng; 01 (Một) đĩa bằng sứ, màu trắng, có hoa văn. Tình trạng: Cũ, đã qua sử dụng; 04 (Bốn) Q6 vị bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 (Một) chiếc kéo bằng kim loại, cán nhựa màu hồng dài 13cm, Tình trạng: Cũ, đã qua sử dụng.
Về án phí: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo Triệu Văn B2 trình bày lời bào chữa về hành vi và tội danh như bị cáo đã thừa nhận, nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt, vật chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất cải tạo không giam giữ để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Triệu Văn B2 không có ý kiến bổ sung với người bào chữa, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/01/2024, tại thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 7.380.000 đồng (Cơ điều tra chỉ thu giữ được 7.350.000 đồng, còn 30.000 đồng, do các đối tượng bỏ chạy bị rơi, thất thoát). Do đó có căn cứ xác định các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo lợi dụng nhà anh Đặng Văn L6 tổ chức ăn mừng đầy tháng con có nhiều người đến dự, sau khi ăn cơm xong các bị cáo bàn về chuyện đánh bạc rồi cùng nhau tham gia một cách tự phát, không có ai tổ chức, đứng ra thu tiền hồ, các bị cáo nhìn thấy đám đông tập chung gần nhà là tìm đến và thấy đánh bạc thì tự tham gia. Hành vi đánh bạc của các bị cáo là bột phát, nhất thời. Số tiền của các bị cáo dùng để đánh bạc đa số là ít, mục đích đánh bạc thắng được tiền, không quan trọng là người có tiền nhiều hay ít, tham gia một lần hay nhiều lần, mà đã tham gia đánh bạc, tiền đem theo để dùng vào mục đích đánh bạc, tiền thu được tại chiếu bạc theo quy định của pháp luật là đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, mang tính sát phạt nhau bằng tiền, vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trong lĩnh vực quản lý xã hội của Nhà nước. Mặt khác hành vi phạm tội Đánh bạc của các bị cáo cũng là một trong những nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và tội phạm khác trong xã hội, nhất là địa phương của các bị cáo. Do vậy cần phải có hình thức xử phạt nghiêm khắc, mới mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm đánh bạc tại địa phương.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đó là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Triệu Văn Đ3 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Sau khi phạm tội các bị cáo Hoàng Văn Đ1, Triệu Văn Đ, Dương Trung H1, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2, Triệu Ngọc T16 đã đến Công an huyện B đầu thú. Ngoài ra bị cáo Dương Trung H1 có ông nội là ông Dương Văn M1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba; bố Dương Sỹ C được tặng kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc; bị cáo Lâm Văn Tó có ông nội là ông Lâm Văn C6 là liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp; bị cáo Triệu Văn T12 có bố là Triệu Kim T13 được Bộ trưởng Bộ C7 tặng Kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc. Bị cáo Triệu Ngọc T16 được Hội nông dân xã Y công nhận đã có thành tích tiêu biểu trong phong trào tổ chức hội nhiệm kỳ 2018 – 2023. Bị cáo Triệu Văn Đ3 và Dương Trung H1 đã tự nguyện ủng hộ quỹ Tết nhân ái năm 2024 (Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam năm 2024 của Hội Chữ thập đỏ huyện B) với số tiền mỗi người 1.000.000 đồng. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[6] Để có mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo, thấy rằng: Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không có việc tổ chức, bàn bạc, cấu kết chặt chẽ mà các bị cáo phạm tội mang tính bột phát sau khi ăn cơm xong. Bị cáo Triệu Văn Đ là người trực tiếp làm quân vị, chuẩn bị bát, đĩa để đánh bạc và là người cầm cái đầu tiên, tham gia đánh bạc. Các bị cáo Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1 vừa là người cầm cái vừa tham gia đánh bạc. Bị cáo Triệu Văn H2 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất là 3.800.000 đồng. Các bị cáo còn lại Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 đồng phạm tham gia đánh bạc với vai trò thứ yếu từ 50.000 đồng đến 600.000 đồng. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng cải tạo tại địa phương và nếu không bắt đi thi hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội. Căn cứ theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 15/4/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Xét thấy không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly khỏi đời sống xã hội để các bị cáo có cơ hội tiếp tục được cải tạo tại địa phương, rèn luyện sửa chữa lỗi lầm, xử phạt mức án tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Qua xác minh và tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo đều thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn, không có tài sản và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
[9] Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 7.350.000 đồng (bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Hiện đang tạm gửi trong tài khoản tạm gửi của Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
[10] Tuyên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) bát con bằng sứ, màu trắng; 01 (Một) đĩa bằng sứ, màu trắng, có hoa văn. Tình trạng: Cũ, đã qua sử dụng. 04 (Bốn) Q6 vị bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. 01 (Một) chiếc kéo bằng kim loại, cán nhựa màu hồng dài 13cm, Tình trạng: Cũ, đã qua sử dụng.
[11] Căn cứ theo Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy, các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét đề nghị của người bào chữa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[13] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Triệu Văn Đ3.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 262; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 phạm tội Đánh bạc.
* Hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Triệu Văn Đ3 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 (hai mươi tám) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn Đ 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn H 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ1 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Dương Trung H1 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn H2 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Lâm Văn T6 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn S 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn T3 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn T7 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn C2 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Dương Văn K2 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng. Thời gian chấp hành tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Triệu Văn H2, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Dương Trung H1, Hoàng Văn Đ1, Triệu Văn Đ3, Dương Văn K2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Triệu Văn H2, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Trung H1, Hoàng Văn Đ1, Triệu Văn Đ3, Dương Văn K2 thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn Q3 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Lý Văn T10 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn T12 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Dương Văn B1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn B2 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn T15 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn V2 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Triệu Ngọc T16 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao các bị cáo Lý Văn T10, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2, Triệu Ngọc T16 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục.Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Giao các bị cáo Triệu Văn Q3, Dương Văn B1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Giao bị cáo Triệu Văn T12 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 7.350.000 đồng (bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Hiện đang tạm gửi trong tài khoản tạm gửi của Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Tuyên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) bát con bằng sứ, màu trắng; 01 (Một) đĩa bằng sứ, màu trắng, có hoa văn. Tình trạng: Cũ, đã qua sử dụng. 04 (Bốn) Q6 vị bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. 01 (Một) chiếc kéo bằng kim loại, cán nhựa màu hồng dài 13cm, Tình trạng: Cũ, đã qua sử dụng.
Hiện trạng tài sản, vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia ngày 27 tháng 5 năm 2024.
3. Về án phí:
Các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Thị Hiệt |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/01/2024, tại thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo Triệu Văn Đ, Triệu Văn H, Hoàng Văn Đ1, Dương Trung H1, Triệu Văn H2, Triệu Văn Đ3, Đặng Văn S, Triệu Văn T3, Lâm Văn T6, Triệu Văn T7, Triệu Văn C2, Dương Văn K2, Triệu Văn Q3, Lý Văn T10, Triệu Văn T12, Dương Văn B1, Triệu Văn B2, Triệu Văn T15, Triệu Văn V2 và Triệu Ngọc T16 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 7.380.000 đồng.
