|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 31 - 5 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Hoà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Tuyên và ông Nông Văn Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Vĩnh Thuỵ - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử 1, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lý Văn L (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 26 tháng 8 năm 19xx, tại xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn H và bà Triệu Thị D (đều đã chết), bị cáo có vợ là Triệu Thị H1 và 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Năm 2019, Lý Văn L bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng theo quyết định số 05 ngày 03/7/2019 của Toà án nhân dân huyện N và đã chấp hành xong ngày 25/6/2021; bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N từ ngày 27/02/2024 đến nay (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị Xuân - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn theo Quyết định số 73/QĐ-TGPL ngày 18/3/2024 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn Về việc cử trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng (có mặt).
* Người có quyền lợi liên quan:
- - Bà Triệu Thị H1; sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
- - Chị Lý Thị L1; sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 20 giờ 00 phút ngày 26/02/2024, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện N phối hợp cùng Công an xã V tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự thì phát hiện Lý Văn L, sinh năm 1979, trú tại thôn P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Blade màu đen, BKS 97B2 – xxx.xx di chuyển theo hướng từ thôn N ra Ủy ban nhân dân xã V có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra, Lý Văn L khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy trên người. Tổ công tác tiến hành kiểm tra trên người Lý Văn L phát hiện tại túi áo mưa đằng trước bên trái có 01 gói nilon màu đỏ bên trong chứa chất màu trắng dạng cục lẫn bột, tại bên trong chiếc tất màu đen bên phải đang đi ở chân Lý Văn L thì phát hiện 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất màu trắng dạng cục lẫn bột. Tiến hành trích một lượng nhỏ chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong hai gói nhỏ để thử với thuốc thử ma túy do Bộ Công an cấp, thì thuốc thử chuyển sang màu tím than trùng với màu nhận biết ma túy. Tổ công tác đã gói lại 02 gói trên như ban đầu và cho vào 02 phong bì dán niêm phong kí hiệu lần lượt là A1, A2.
Kiểm tra xe mô tô BKS 97B2 – xxx.xx không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của Lý Văn L.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 27/02/2024 đối với Lý Văn L có kết quả xét nghiệm: Dương Tính có sử dụng chất ma túy (Hêrôin).
Ngày 27/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành cân xác định khối lượng số chất màu trắng nghi ma túy thu được trên người Lý Văn L. Kết quả số chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bì kí hiệu A1 có khối lượng là 1,580g; số chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bì kí hiệu A2 có khối lượng là 0,359g. Sau khi cân số chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bì kí hiệu A1 và A2 được cho trong các phong bì dán kín niêm phong có kí hiệu lần lượt là B1 và B2 để gửi giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 82/QĐ-HS,KT, MT ngày 27/02/2024. Số vật chứng còn lại gồm 01 túi nilon màu đỏ, 01 túi ni lon màu hồng, 01 tờ giấy màu trắng, 01 phong bì kí hiệu A1, 01 phong bì kí hiệu A2 được cho vào trong 01 phong bì dán kín niêm phong kí hiệu B3.
Cùng ngày 27/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 23/LKX-ĐCSHC-KTMT ngày 27/02/2024 đối với chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan của Lý Văn L tại thôn P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 94/KL-KTHS ngày 05/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận:
- - Mẫu chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong 02 phong bì ký hiệu B1 và B2 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- - Mẫu chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bì ký hiệu B1 có khối lượng là: 1,580g (Một phẩy năm tám không gam).
- - Mẫu chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bì ký hiệu B2 có khối lượng là: 0,359g (Không phây ba năm chín gam).
Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại: 1,541g (Một phẩy năm bốn một gam), mẫu chất trong phong bì ký hiệu B2 còn lại: 0,322g (Không phẩy ba hai hai gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T63 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Quá trình điều tra, bị can Lý Văn L khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 26 tháng 02 năm 2024, Lý Văn L đi từ nhà ở thôn P, xã V, huyện N sang xã T, huyện N với mục đích để tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân do L là người nghiện chất ma túy, chứ không có mục đích nào khác. Khi đến thôn K, xã T có gặp một người nam giới ở ngoài đường nhìn giống như người nghiện ma túy, L dừng xe nói chuyện thì người này nói tên là Q, L có hỏi người này có ma túy bán không thì người này bảo có và đồng ý bán cho L. L bảo mua 2.700.000₫ và nói rằng chia cho L làm 02 gói. Sau đó người nam giới này điều khiển xe mô tô đi đâu đó khoảng 10 phút thì quay lại, L đưa tiền cho nam giới này thì được người nam giới này đưa lại cho 02 gói nhỏ ma túy đều gói bằng túi nilon, một gói có màu đỏ, một gói có màu hồng. L để gói ma túy màu đỏ to hơn vào túi áo mưa đằng trước bên trái, gói ma túy màu hồng nhỏ hơn vào trong tất chân bên phải sau đó đi về. Khi L đi về đến đoạn đường thuộc thôn N, xã V, huyện N thì bị Tổ công tác của Công an huyện N kiểm tra, phát hiện trên người Lưu 02 gói ma túy nêu trên và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Về vật chứng của vụ án, bao gồm:
- - 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B3, bên trong có 01 mảnh nilon màu đỏ, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 tờ giấy màu trắng, 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong, 01 phong bì ký hiệu A2 đã mở niêm phong.
- - 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T63, bên trong có 1,863g ma túy cùng phong bì, bao gói cũ.
(Các vật chứng hiện đang tạm giữ và được bảo quản theo quy định)
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 97B2 – xxx.xx mà Lý Văn L sử dụng để đi mua ma túy xác định là tài sản riêng của bà Triệu Thị H1, sinh năm 19xx, trú tại thôn P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Bà H1 là vợ của Lý Văn L và bà không biết việc L sử dụng chiếc xe mô tô này để đi mua ma túy về sử dụng. Ngày 29/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Triệu Thị H1 theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 29/3/2024 là có căn cứ nên không xem xét giải quyết.
Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS-NR ngày 03/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, truy tố bị cáo Lý Văn L về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi, động cơ, mục đích phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận. Do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất ma túy. Còn chiếc xe mô tô BKS 97B2 – xxx.xx là tài sản riêng của vợ bị cáo là Triệu Thị H1 được mua bằng tiền của con gái là Lý Thị L1 cho riêng mẹ. Khi mượn chiếc xe mô tô này thì vợ và con gái của L không biết việc Lưu mượn xe mô tô để tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài số ma túy bị thu giữ và chiếc xe mô tô bị tạm giữ (Đã được trả lại cho vợ L), thì L không bị cơ quan chức năng tạm giữ đồ vật, tài sản gì khác. L cho biết bản thân là người nghiện ma túy; nghề nghiệp tự do; là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên xin được miễn hình phạt bổ sung. Tại phiên tòa và lời nói sau cùng, L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt; miễn hình phạt bổ sung bằng tiền và tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi liên quan - Bà Triệu Thị H1 và chị Lý Thị L1 trình bày: Bà H1 là vợ, chị L1 là con của Lý Văn L. Về nguồn gốc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 97B2-xxx.xx là xe của bà Triệu Thị H1 được mua bằng tiền do chị L1 cho. Chiếc xe mô tô này đã được cơ quan CSĐT Công an huyện N trả lại cho bà H1 vào ngày 29/3/2024 nên bà H1 và chị L1 không có ý kiến gì. Về việc liên quan đến hành vi bà H1 cho Lý Văn L mượn xe mô tô vào ngày 26/02/2024, thì bà H1 và chị L1 không biết được mục đích mượn chiếc xe mô tô của bị cáo là để đi mua ma túy. Ngoài ra họ không còn ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lý Văn L phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn Lưu từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo; về vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B3, bên trong có 01 mảnh nilon màu đỏ, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 tờ giấy màu trắng, 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong, 01 phong bì ký hiệu A2 đã mở niêm phong; 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T63, bên trong có 1,863g (Một phẩy tám sáu ba gam) ma túy cùng phong bì, bao gói cũ; bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa trình bày quan điểm bào chữa: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng như đại diện Viện kiểm sát trình bày. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý là để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có tiền án, tiền sự, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện N, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi liên quan tại cơ quan Điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bản thân bị cáo Lý Văn L là người nghiện ma túy nên đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã bị tổ công tác của Công an huyện N, phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang vào hồi 20 giờ 00 phút ngày 26/02/2024, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 1,939g (Một phẩy chín ba chín gam) ma túy, loại heroine.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 01 năm đến 05 năm.
...c) Heroin, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;
[3] Về các tình tiết quyết định mức hình phạt:
[3.1] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành phạm tội của bị cáo là nguy hiểm. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lý Văn L đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương.
[3.2] Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Không có tiền án, tiền sự. Năm 2019, bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng theo quyết định số 05/QĐ-TA ngày 03/7/2019 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, ngày 25/6/2021, bị cáo chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo biên bản xác minh lập ngày 04/4/2024 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Kạn của Cơ quan CSĐT Công an huyện N. Sau khi chấp hành xong trở về địa phương bị cáo vẫn không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần được xem xét khi quyết định mức hình phạt.
[3.3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha là Lý Văn H được Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc theo Quyết định số 86/CP ngày 17/6/1968 của Thủ tướng Chính Phủ, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quy định của Bộ luật hình sự, HĐXX xét thấy: Cần áp dụng biện pháp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Có như vậy mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, bị cáo không có tài sản theo biên bản xác minh lập ngày 05/4/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện N với UBND xã V, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho L vào ngày 26/02/2024, không rõ lai lịch của người này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N không đủ cơ sở để điều tra xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 97B2 – xxx.xx mà Lý Văn L sử dụng để đi mua ma túy qua điều tra, xác định là tài sản riêng của bà Triệu Thị H1 được mua bằng tiền của con gái là chị Lý Thị L1 cho. Bà H1 khi cho chồng là Lý Văn L mượn xe mô tô thì bà H1 không biết việc L sử dụng chiếc xe mô tô này để đi mua ma túy về sử dụng. Do vậy, ngày 29/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Triệu Thị H1 là có căn cứ, nhưng không có kết luận, đánh giá về hành vi cho bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội của bà H1 là chưa đầy đủ. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã bổ sung quan điểm về hành vi cho mượn xe của bà H1 không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên đề nghị không xem xét xử lý đối với bà Triệu Thị H1 là có căn cứ.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B3, bên trong có 01 mảnh nilon màu đỏ, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 tờ giấy màu trắng, 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong, 01 phong bì ký hiệu A2 đã mở niêm phong và 01(Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T63, bên trong có 1,863g (Một phẩy tám sáu ba gam) ma túy cùng phong bì, bao gói cũ là vật chứng của vụ án nhưng đã có kết luận giám định theo tố tụng hình sự và là vật do Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
(Số lượng, hiện trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/5/2024 giữa Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ các Điều 106, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn L (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lý Văn L 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 27/02/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo Lý Văn L 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lý Văn Lưu.
[2] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B3, bên trong có 01 mảnh nilon màu đỏ, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 tờ giấy màu trắng, 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong, 01 phong bì ký hiệu A2 đã mở niêm phong.
- - 01( Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T63, bên trong có 1,863g (một phẩy tám sáu ba gam) ma túy cùng phong bì, bao gói cũ.
(Số lượng, hiện trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/5/2024 giữa Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
[4] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Văn L.
[5] Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi liên quan là bà Triệu Thị H1, chị Lý Thị L1 có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của họ trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) TRẦN QUANG HÒA |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
