Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH HƯNG

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày 24 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Danh Văn Hoàng

Ông Nguyễn Văn Lạc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn Tuấn Y, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1989; Tên gọi khác: Không có; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T, sinh năm: 1965 và bà Phạm Thị Cẩm T1, sinh năm: 1965; bị cáo có vợ là Tường Kim H, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và chấp hành xong quyết định ngày 03/11/2021; Về nhân thân: Ngày 16/5/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 04/01/2023 đến ngày 13/01/2023 chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn T, sinh năm 1965. Trú tại: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An (vắng mặt).
  2. Ông Trần Chí M, sinh năm 1999. Trú tại: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An (vắng mặt).
  3. Ông Trần Quốc S, sinh năm 1997. Trú tại: Khu phố B, phường C, thị xã K, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người chứng kiến: Bà Lê Thị P, sinh năm 1970 (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được thể hiện như sau:

- Cáo trạng số 05/CT-VKSVH ngày 28 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố bị cáo Trần Văn Tuấn Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, với hành vi được tóm tắt như sau:

Vào ngày 01/01/2023, Trần Văn Tuấn Y, sinh năm 1989, cư trú ấp B, xã T, huyện V đi ô tô khách lên thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy đá. Y dùng điện thoại gắn sim số 0797.782.xxx gọi cho một người tên N (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 700.000 đồng ma túy, Tuấn Y đến công viên P, Quận F nhận ma túy. Với hình thức tương tự, ngày 03/01/2023, Tuấn Y đến công viên P mua 1.200.000 đồng ma túy mang về nhà tàng trữ để sử dụng. Vào lúc 09 giờ 05 phút ngày 04/01/2023, Công an huyện V tiến hành khám xét nơi ở của T, phát hiện Tuấn Y tàng trữ 01 gói ny lon hàn kín một đầu, một đầu hở, bên trong có 10 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong các đoạn ống nhựa có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 gói ny lon bên ngoài được quấn băng keo dính màu vàng, bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Cơ quan điều tra tiến hành niêm phong mã số NS4-1937588, có chữ ký của Trần Văn Tuấn Y và Lê Thị P là người chứng kiến. Kết luận giám định số 19/KL-KTHS ngày 12/01/ 2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

“1. Tinh thể màu trắng đựng trong 10 (mười) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 1,2784 gam, loại: Methamphetamine.

2. Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon (bên ngoài được quấn băng dính màu vàng) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 2,0585 gam, loại: Methamphetamine."

Tổng khối lượng ma túy Trần Văn Tuấn Y tàng trữ là 3,3369 gam, loại Methamphetamine.

Qua điều tra còn xác định Trần Quốc S vào khoảng 11 giờ ngày 03/01/2023, trong phòng ngủ, tại nhà của Tuấn Y ở ấp B, xã T, T sử dụng trái phép chất ma túy cùng với S một lần. Ma túy và dụng cụ sử dụng là của Tuấn Y, Tuấn Y không thu tiền sử dụng ma túy của S, kết quả kiểm tra thử nước tiểu của Quốc S cho kết quả dương tính với ma túy. Ngoài ra, Tuấn Y còn khai vào khoảng 10 đến 11 giờ ngày 02/01/2023 sử dụng ma túy cùng Trần Chí M nhưng ma túy, dụng cụ không thu giữ được và cũng không tiến hành kiểm tra Mỹ có dương tính với ma túy hay không.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần văn Tuấn Y1: Từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đồng thời, áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội; áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 07 năm 06 tháng với Bản án đã có hiệu lực trước đó để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 04/01/2023.

Về vật chứng của vụ án: đề nghị căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư đã được niêm phong có ghi vụ số: 19/KL-KTHS ngày 12/01/2023, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Thị Quế C, người niêm phong Phạm Anh Đ. 01 bình thủy tinh màu trắng được dán dính lại trên hộp nhựa quấn băng keo màu vàng, phía trên gắn ống nhựa được quấn băng keo màu vàng chỗ khớp nổi; 01 cây kéo màu trắng, quấn băng keo dính màu đen một bên tay cầm; 01 bịch ống nhựa màu trắng; 01 bịch ống nhựa màu đỏ xanh vàng.

- Ý kiến của bị cáo thống nhất hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố trong cáo trạng, quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều tự nguyện khai báo, không bị ép cung nhục hình; khẳng định mọi lời khai tại phiên tòa là diễn biến sự thật của vụ án.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chí M: Ông Chí M được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, lời khai trong hồ sơ thể hiện ông nhiều lần mua ma túy tại nhà Tuấn Y1 và Quốc S là người thường xuyên giao ma túy cho ông; vào lúc 10 đến 11 giờ ngày 02/01/2023, ông đến nhà Tuấn Y1 mua ma túy thì thấy tại phòng ngủ của Tuấn Y1 có sẵn ma túy trong dụng cụ sử dụng ma túy là chai nhựa xì ting có khoét 02 lỗ trên nắp nhựa màu đỏ, 01 lỗ gắn ống hút và 01 lỗ gắn nồi (nỏ) bằng thủy tinh màu trắng, nên ông đã cùng Tuấn Y1 sử dụng ma túy.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quốc S: Ông Quốc S được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, lời khai trong hồ sơ thể hiện ông có sử dụng ma túy chung Tuấn Y1 vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 03/01/2023, tại nhà của Tuấn Y1, dụng cụ sử dụng là chai nhựa loại xì tin, nắp chai màu đỏ có khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh; ma túy là của Tuấn Y1, ông và Tuấn Y1 là bạn nên ông không phải trả tiền sử dụng ma túy; ông không biết gì về việc Tuấn Y1 tàng trữ ma túy, ông cũng không giao ma túy như lời khai của Chí M.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T trong các biên bản ghi lời khai: Xe máy mà Tuấn Y1 sử dụng cho Quốc S mượn và bị công an bắt giữ là xe của ông, ông không biết gì về việc Tuấn Y1 tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, ông đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì trong vụ án.

- Lời khai của người chứng kiến bà P: Có chứng kiến việc cơ quan có thẩm quyền bắt giữ T trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nhà của Tuấn Y1 thu giữ các vật chứng như nêu trên, ngoài ra bà không biết thêm gì.

Thực hiện quyền được nói lời sau cùng bị cáo nói: Xin Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình, phụng dưỡng cha mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ. Cụ thể: Vào ngày 04/01/2023, tại nhà của Tuấn Y1 thuộc ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An cơ quan Điều tra công an huyện V đã phát hiện và thu giữ 01 gói ny lon hàn kín một đầu, một đầu hở, bên trong có 10 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong các đoạn ống nhựa có chứa tinh thể màu trắng và 01 gói ny lon bên ngoài được quấn băng keo dính màu vàng, bên trong có tinh thể màu trắng. Kết quả giám định của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Các chất thu giữ nêu trên là ma túy, tổng khối lượng là 3,3369 gam, loại Methamphetamine. Số ma túy trên bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng, không có mục đích mua bán, trao đổi cho người khác. Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên thì vào lúc 10 giờ ngày 03/01/2023 tại phòng ngủ của bị cáo Tuấn Y1, bị cáo Tuấn Y1 đã cung cấp ma túy và dụng cụ cho Trần Quốc S cùng sử dụng, sau khi cho ma túy vào dụng cụ là chai nhựa loại xì tin, nắp chai màu đỏ có khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh thì Tuấn Y1 hút 03 đến 04 hơi rồi đến Sỹ hút, sau khi hút xong thì S ra về và sau đó bị lực lượng công an giữ do hành vi điều khiển xe vi phạm giao thông; tiến hành thử nước tiểu vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 04/01/2023 đối với S đã cho kết quả dương tính với ma túy; bị cáo Tuấn Y1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội phù hợp với lời khai của S và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ.

Hành vi tàng trữ ma túy với khối lượng 3,3369 gam, loại Methamphetamine nêu trên của bị cáo Tuấn Y1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy cho Trần Quốc S sử dụng tại nhà của bị cáo Tuấn Y1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 05/CT-VKSVH ngày 28 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng truy tố bị cáo về các tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo có đủ nhận thức về tác hại của ma túy và quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, đồng thời bị cáo cung cấp ma túy, dụng cụ cho người khác sử dụng tại nhà của mình, đây là một trong các hành vi được pháp luật quy định là tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý chất ma túy, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác cùng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người khác khi sử dụng ma túy và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có khả năng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để có hình phạt tương xứng

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông nội và cậu là liệt sĩ đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[6] Từ các phân tích nêu trên, khẳng định hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có thu nhập chính từ việc buôn bán quần áo nhưng không ổn định, chỉ đủ sinh hoạt hàng ngày, hiện tại không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[8] Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Cần tịch thu tiêu hủy 01 bì thư đã được niêm phong có ghi vụ số: 19/KL-KTHS ngày 12/01/2023, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Thị Quế C, người niêm phong Phạm Anh Đ; 01 bình thủy tinh màu trắng được dán dính lại trên hộp nhựa quấn băng keo màu vàng, phía trên gắn ống nhựa được quấn băng keo màu vàng chỗ khớp nổi; 01 cây kéo màu trắng, quấn băng keo dính màu đen một bên tay cầm; 01 bịch ống nhựa màu trắng; 01 bịch ống nhựa màu đỏ xanh vàng.

Đối với điện thoại di động Tuấn Y1 dùng để liên lạc mua ma túy đã bị hư và vứt bỏ, cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với người tên N ở Thành phố Hồ Chí Minh không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V chưa xác minh để xử lý là phù hợp.

[10] Đối với lời khai của Trần Chí M về việc nhiều lần mua ma túy của Tuấn Y1 do Quốc S giao nhưng Tuấn Y1 và Quốc S đều không thừa nhận, Chí S1 hiện nay ở đâu không rõ nên kiến nghị cơ quan công an tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý khi có căn cứ. Đối với lời khai Tuấn Y1 có cung cấp ma túy và dụng cụ cho Chí M sử dụng ma túy tại nhà Tuấn Y1 vào khoảng 10 đến 11 giờ ngày 02/01/2023, do ma túy đã được sử dụng hết và tại thời điểm trên cũng không tiến hành được việc thử nước tiểu đối với Chí Mỹ nên chưa chứng minh được ma túy đã được đưa trái phép vào người của C, vì vậy, không đủ căn cứ xác định Tuấn Y1 có hành vi tổ chức cho Chí M sử dụng trái phép ma túy.

[11] Về án phí: Bị cáo Trần Văn T2 Yên không thuộc trường hợp được miễn giảm án phí nên bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Tuấn Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Văn Tuấn Y 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Văn Tuấn Y 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Trần Văn Tuấn Y phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng của Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, buộc bị báo Trần Văn Tuấn Y phải chấp hành hình phạt chung là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 04/01/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ Luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn T2 Yên để đảm bảo cho việc thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 24 tháng 6 năm 2024.

Về vật chứng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư đã được niêm phong có ghi vụ số: 19/KL-KTHS ngày 12/01/2023, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Thị Quế C, người niêm phong Phạm Anh Đ; 01 bình thủy tinh màu trắng được dán dính lại trên hộp nhựa quấn băng keo màu vàng, phía trên gắn ống nhựa được quấn băng keo màu vàng chỗ khớp nổi; 01 cây kéo màu trắng, quấn băng keo dính màu đen một bên tay cầm; 01 bịch ống nhựa màu trắng; 01 bịch ống nhựa màu đỏ xanh vàng.

Các vật chứng nêu trên hiện đang do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Trần Văn Tuấn Y phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo: Trần Văn Tuấn Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T, ông Trần Chí M, ông Trần Quốc S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - VKSND, CCTHADS, Công an/H;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu: HS, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Tuấn Y tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt và khai nhận thêm đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger