Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AYUN PA

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày: 08-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ksor H' Đuen

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Bảo Châu; nghề nghiệp: Giáo viên

Ông Nguyễn Đăng Khoa; nghề nghiệp: cán bộ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hợi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ngọc Ánh, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/HSST-QĐ ngày 27/9/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/HSST-QĐ ngày 25/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. Siu Đ, sinh ngày 07 tháng 01 năm 2005 tại A, Gia Lai. Nơi thường trú: Tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 02/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: không. Cha là Kpă D, sinh năm 1976, mẹ là Siu H, sinh năm 1971. Hiện ở tại tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai. C sống như vợ chồng với Rcom T và có 01 con chung sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không.

    Về nhân thân: Ngày 21/6/2021 bị Công an thị xã A, Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã A, Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Ksor H, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2007 tại A, Gia Lai. Nơi thường trú: Tổ A, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam. Cha là Siu K (đã chết), mẹ là Ksor H1 – sinh năm 1983. Hiện ở Tổ A, phường Đ, A, Gia Lai. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. Ksor K1, sinh ngày 29 tháng 8 năm 1999 tại I, Gia Lai. Nơi thường trú: Bôn T, xã I, huyện I, Gia Lai. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Cha là Siu T1, sinh năm 1974; mẹ là Ksor H2, sinh năm 1976. Hiện ở B, xã I, huyện I, Gia Lai. C sống như vợ chồng với Siu H3 và có 02 con chung sinh năm 2019 và 2023. Tiền án, tiền sự: Không.

    Về nhân thân: Ngày 21/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, Gia Lai xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 18/10/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Ngày 26/5/2018 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định khác của các bản án. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/7/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã A, Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  4. Ksor S, sinh ngày 05 tháng 12 năm 2005 tại I, Gia Lai. Nơi thường trú: Bôn Tr, xã I, huyện I, Gia Lai. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Cha là Nay P, sinh năm 1973; mẹ là Ksor H4, sinh năm 1978. Hiện ở B, xã I, huyện I, Gia Lai. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  5. Nay K2, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2004 tại I, Gia Lai. Nơi thường trú: Bôn Tr, xã I, huyện I, Gia Lai. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam. Cha là Reom P1, sinh năm 1986, mẹ là Nay H5, sinh năm 1986. Hiện ở B, xã I, huyện I, Gia Lai. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

    - Người đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên Ksor Hoang:

    Bà Ksor H6' Yuim, sinh năm 1983

    Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt

    -Người bào chữa cho bị cáo Ksor H7 và Ksor K1: Bà Bùi Thị P2 - Là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm T4 tỉnh Gia Lai. Có mặt

    - Người bào chữa cho bị cáo Ksor S và Nay K3: Bà Ngô Thị V - Là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm T4 tỉnh Gia Lai. Có mặt

    - Bị hại: 1. Anh Ksor T2, sinh năm 2002.

    Địa chỉ: B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

    2. Anh Ksor V1, sinh năm 2000.

    Địa chỉ: B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt

    - Người bảo vệ quyền lợi cho bị hại: Ông Bùi Quang T3 - Là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm T4 tỉnh Gia Lai. Có mặt

    - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị P3, sinh năm 1979

    Địa chỉ: Tổ B, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

    - Người làm chứng: Chị Siu H8' B, sinh năm 2002

    Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

    Anh Ksor K2, sinh năm 2005

    Địa chỉ: Buôn J, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

    Chị Ksor H6' Nhen, sinh năm 2007

    Địa chỉ: Tổ F, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Văng mặt

    - Người phiên dịch: Ông Siu H9

    Địa chỉ: Tổ I, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/02/2024, Siu Ð, Ksor H7, K, Ksor S, Nay K3, Siu H3 (là chị gái của Siu Đ và là vợ của Ksor K1) ngồi nhậu tại quán vỉa hè thuộc tổ A, phường Đ, A của bà Nguyễn Thị P3. Lúc này, Ksor T2, K, Ksor K2 và Ksor H10 cùng một số người bạn cũng nhậu tại đây. Trong quá trình nhậu, Siu H3 và Ksor H7 nhận ra người quen là Ksor H10 nên H3 và H7 đến mời rượu bàn của H10. Tại đây, H3 cũng nhận ra người quen là Ksor T2; Hoang mời rượu xong thì đi về bàn nhậu của mình còn H3 ngồi lại nói chuyện thì T2 nói: “Có chồng rồi đi chơi làm gì nữa” nên H3 tự ái rồi đi về bàn của mình. Trên đường trở về bàn nhậu của mình, H3 gặp H7 và kể với H7 việc T2 có lời nói khiến H’Ben cảm thấy bị xúc phạm trước đó. Sau khi quay lại bàn nhậu, H7 kể lại sự việc H3 bị xúc phạm cho Đ nghe và chỉ cho Đ bàn của nhóm Ksor Trương . Nghe vậy, Đ tức giận và nói H7 chở về nhà lấy dao, H7 đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81AK-007.84 chở Đ về nhà. Trên đường đi Hoang nói sẽ tham gia cùng Đ đánh nhóm của T2. Khi về nhà Đ lấy 01 (một) con dao mang theo rồi cùng H7 quay lại quán nhậu. Khi đến gần vị trí bàn nhậu của T2 tại vỉa hè đường N, H7 dừng xe trên vỉa hè, Đ cầm dao đi về phía bàn nhậu của T2. Lúc này, H7 và Đ đều không biết T2 là ai nên gặp ai đánh đó, Đ cầm dao tiến về phía Ksor V1 còn H7 tiến đến đứng sau lưng của Ksor K2. Sau đó, Đ vung dao chém 01 (một) nhát trúng vào vùng vai phải của V1, V1 bỏ chạy; Đ tiếp tục vung dao chém về phía Khơ, K2 dùng ghế nhựa chặn lại; lúc này, H7 cầm ghế nhựa đánh về phía K2, K2 cũng cầm ghế đánh về phía H7 làm 02 (hai) ghế nhựa va vào nhau rồi văng đi, không trúng ai. Thấy vậy, V1 chạy đến dùng đàn guitar đánh về phía H7 nhưng không trúng. Sau đó, V1 cùng K2 áp sát giữ được H7 nhưng H7 vùng thoát ra được rồi chạy về phía quảng trường, V1 và K2 không đuổi theo rồi lên xe bỏ về. Sau khi chém Khơ không trúng, Đ tiếp tục dùng dao chém 01 (một) nhát về phía Trương, T2 đưa tay trái lên đỡ thì trúng vào lòng bàn tay, đồng thời cầm ghế nhựa đánh lại về phía Đô thì trúng vào vùng đầu bên phải của Đ, Đ bỏ chạy về phía bàn nhậu của mình. T2 cầm ghế nhựa đuổi theo Đ, vừa chạy Đ vừa gọi Ksor K1. Nghe vậy, Khu, S và K3 đứng dậy, cầm ghế nhựa để giúp Đ đánh T2. Trương thấy nhóm của Đ đông người thì bỏ lại ghế nhựa và chạy ra đường N. Ð mang theo dao cùng K1, K3 và S mỗi người cầm một cái ghế nhựa đuổi theo T2. Khi chạy được khoảng 60 mét thì Khu chạy nhanh về phía Trương đạp Trương ngã xuống đường rồi quàng tay kẹp cổ quật Trương ngã úp mặt xuống đường, Khu nhảy lên ngồi trên lưng của T2 rồi dùng một tay đè đầu T2 xuống đường, tay còn lại đánh liên tục vào người T2. Đ chạy đến vị trí hai chân của Trương rồi vung dao chém 01 (một) nhát trúng vào mu bàn chân trái của T2. Khi S và K3 đến nơi thì K1 đứng dậy khỏi người Trương; lúc này, T2 vẫn đang nằm úp mặt trên đường thì S vung ghế nhựa đánh 01 (một) phát trúng vào vùng vai trái của T2 khiến ghế nhựa bị vỡ. Sau đó, Trương lật người nằm ngửa lại và bị nhóm của Đ vây xung quanh, K1 dùng tay, chân đấm, đá nhiều lần vào người T2, Đ định tiếp tục chém về phía Trương thì K3 đến can ngăn. Sau đó, K3 và S quay lại bàn nhậu, Đ nói Khu dừng lại không đánh Trương nữa rồi quay lại bàn nhậu, Đ đưa con dao cho H' Ben cầm nhưng H' Ben vứt lại tại lề đường rồi cả nhóm đi về nhà còn Ksor T2 và Ksor V1 được đưa đi chữa trị vết thương. Ngày 18/02/2024, Ksor T2 có đơn trình báo vụ việc.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 98/KLTTCT-TTPY ngày 07/3/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh G, xác định: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ksor T2 tại thời điểm giám định là 4% (bốn phần trăm), trong đó: 01 sẹo vết thương phần mềm nằm xiên mặt lòng đốt 3 ngón V bàn tay trái: 1%; 01 sẹo vết thương phần mềm nằm xiên mặt lòng đốt 1 ngón IV bàn tay trái: 1% và 01 sẹo vết thương phần mềm mu bàn chân trái: 2%. Xác định vật gây thương tích: phù hợp với sự tác động của vật sắc bén.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 99/KLTTCT-TTPY gày 05/3/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh G, xác định: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ksor V1 tại thời điểm giám định là 2% (hai phần trăm). Xác định vật gây thương tích: phù hợp với sự tác động của vật sắc bén.

Ngày 05/4/2024, Ksor T2 và Ksor V1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tuổi của bị cáo Siu Đ. Tại kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 1018/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định đội tuổi của Siu Đ tại thời điểm giám định (tháng 5 năm 2024) là “từ 19 năm đến 20 năm”.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm vật chứng của vụ án nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ksor Trương yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), bị hại Ksor V1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Hiện các bị cáo Ksor K1, Ksor S, Nay K3 mỗi người đã bồi thường 4 000.000 đồng, tổng là 12.000.000đồng do Ksor Trương nhận. Các bị cáo Siu Đ và Ksor H7 chưa bồi thường cho người bị hại. Ksor Trương yêu cầu Siu Đ và Ksor H7 bồi thường 3.000.000 đồng, Ksor V1 yêu cầu Siu Đ và Ksor H7 bồi thường 8.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Siu Đ, Ksor H7, Ksor K1, Nay S và Nay K3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Siu Ð, Ksor H7, Ksor K1, Ksor S và Nay K3 phạm tội Cố ý gây thương tích.

  • - Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Siu Đ
  • - Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, áp dụng thêm Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ksor H7.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ksor K1.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ksor S
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nay K3.

Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Siu Đ từ 15 đến 20 tháng tù; bị cáo Ksor H7 từ 9 đến 12 tháng tù; Ksor K1 từ 7 đến 10 tháng tù; Ksor Sang từ 6 đến 9 tháng tù; Nay Khanh từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 12 đến 18 tháng.

*Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Ksor K1, Ksor S và Nay K3 mỗi người đã bồi thường 4.000.000 đồng, tổng cộng 12.000.000 đồng đã bồi thường cho Ksor Trương . Các bị cáo Siu Đ và Ksor H7 chưa bồi thường cho những người bị hại. Người bị hại Ksor T2 yêu cầu Siu Đ và Ksor H7 bồi thường 3.000.000 đồng, Ksor V1 yêu cầu Siu Đ và Ksor H7 bồi thường 8.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Siu Đ đồng ý bồi thường cho T2 3.000.000 đồng, bồi thường cho V1 4.000.000 đồng, tại phiên tòa Đ bồi thường trước cho Vang 1.000.000 đồng, còn tiếp tục bồi thường số tiền 3.000.000 đồng.

Bị cáo Ksor H7 đồng ý bồi thường cho V1 4.000.000 đồng, tại phiên tòa H7 đã bồi thường trước số tiền 1.500.000 đồng, còn tiếp tục bồi thường 2.500.000đồng.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo Ksor H7 và Ksor K1: Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các điều luật đã viện dẫn, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo. Về mức hình phạt đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ Luật hình sự đối với bị cáo Ksor H7 cho bị cáo H7 được hưởng án treo. Đối với bị cáo Ksor K1, đề nghị xử phạt mức khởi điểm của khung hình phạt.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo Ksor S và Nay K3: Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các điều luật viện dẫn, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với hai bị cáo. Xét tính chất mức độ phạm tội, vai trò của các bị cáo trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt hai bị cáo ở mức thấp nhất là 6 tháng tù và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Quan điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt, đề nghị xem xét khoan hồng đối với các bị cáo.

Quá trình đối đáp tranh luận đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và mức hình phạt đối với các bị cáo.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, không ai có ý kiến tranh luận. Phần lời nói sau cùng các bị cáo đều thể hiện sự ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo H7, S và K3 xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo chưa thành niên, người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Giữa các bị cáo và các bị hại không có mâu thuẫn với nhau từ trước. Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/02/2024 tại tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai S cùng Ksor H7 đã có hành vi dùng dao (hung khí nguy hiểm) gây thương tích đối với Ksor V1 với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02% và Ksor T2 với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 04%, trong đó Ksor K1, Ksor S và Nay K3 cùng Đ gây thương tích cho Ksor T2 với vết thương phần mềm mu bàn chân trái có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Diễn biến sự việc đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã xác định.

Các bị cáo đều nhận thức được sức khỏe, tính mạng của con người là vốn quý, được pháp luật bảo vệ. Việc xâm hại đến sức khỏe người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị. Trong vụ án này, các bị cáo đều không có mâu thuẫn gì với các bị hại. Tuy nhiên, bị cáo Đ và H7 đã tự chuẩn bị hung khí nguy hiểm là con dao để gây thương tích cho bị hại Ksor T2 và Ksor V1, khi bị Trương đuổi đánh lại thì bị cáo Đ đã gọi các bị cáo K1, S và K3 giúp đỡ thì được các bị cáo đồng ý ngay. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây tổn hại sức khỏe và tinh thần của bị hại, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Hành vi của Siu Đ và Ksor H7 sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích đối với Ksor V1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% và Ksor T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%, đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Ksor K1, Ksor S và Nay K3 mặc dù không trực tiếp gây thương tích cho người bị hại nhưng các bị cáo phải chịu chung hậu quả do Siu Đ gây ra đối với Ksor Trương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% và phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều, khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đây là vụ án đồng phạm, ở hình thức giản đơn, bị cáo Đ, Khu và S tham gia với vai trò là người thực hành, bị cáo H7, K3 tham gia với vai trò giúp sức. Các bị cáo đều có ý thức chấp nhận toàn bộ hậu quả do đồng phạm của mình gây ra nhưng vai trò của các bị cáo có sự khác nhau, cụ thể:

Đối với Siu Đ, bị cáo là người khởi xướng, trực tiếp chuẩn bị hung khí và dùng hung khí gây thương tích cho những người bị hại. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án với vai trò là người thực hành tích cực.

Ksor Hoang khi Siu Đ rủ về nhà lấy dao để gây thương tích cho người khác, bị cáo không can ngăn mà đồng ý cùng tham gia. Bị cáo chở Siu Đ về nhà lấy dao gây thương tích cho Ksor T2 và Ksor V1. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chung với hành vi của Siu Đ gây thương tích đối với Ksor T2 và Ksor V1 với vai trò đồng phạm giúp sức.

Đối với Ksor K1, Ksor S và Nay K3: Khi nghe Siu Đ gọi và nhìn thấy Đ bị Ksor T2 đuổi theo, Khu, K3, S đều hiểu việc Đ gọi nhờ giúp đỡ nên cả ba thống nhất ý chí, cầm theo ghế nhựa rồi cùng Đ rượt đánh T2, với sự giúp sức của Khu, S và K3, Siu Đ đã dùng dao gây thương tích cho T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%, các bị cáo đã tham gia với vai trò là người giúp sức. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của các bị cáo.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng:

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Ksor K1 có nhân thân xấu, các bị cáo Siu Ð, Ksor H7, Ksor S và Nay K3 “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải. Sau khi gây thương tích cho bị hại, các bị cáo Khu, S và K3 đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa bị cáo Đ và H7 đã bồi thường một phần cho bị hại V1 và được bị hại ghi nhận và xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo. Đó là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Ksor H7 dưới 18 tuổi cần áp dụng thêm các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát khi luận tội và đề xuất mức án cần xử phạt đối với từng bị cáo trong vụ án này là phù hợp, đủ nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử xét tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, thấy rằng cần thiết phải xử phạt tù và cách ly khỏi xã hội một thời gian đối với các bị cáo Siu Ð, Ksor K1, Ksor H7 và Ksor S mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Nay K3 tham gia với vai trò là người giúp sức thứ yếu, bị cáo không gây thương tích cho bị hại, quá trình xảy ra sự việc bị cáo có sự can ngăn đối với bị cáo Đ, bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú ổn định, rõ ràng, đủ điều kiện để tự cải tạo, giáo dục tại chỗ dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nên căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà xử phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và giao về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo đang thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Ksor Trương yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí chữa trị và tổn hại sức khỏe tổng số tiền 15.000.000 đồng, bị hại Ksor Vang yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền 8.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra các bị cáo Ksor K1, Ksor S và Nay K3 mỗi người đã bồi thường 4000.000 đồng, tổng cộng là 12.000.000đồng do bị hại Ksor Trương nhận. Các bị cáo Siu Đ và Ksor H7 đồng ý bồi thường nhưng chưa bồi thường cho những người bị hại. Bị hại T2 yêu cầu Siu Đ và Ksor H7 bồi thường cho T2 3.000.000 đồng, bị hại V1 yêu cầu Siu Đ và Ksor H7 bồi thường 8.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Siu Đ thống nhất bồi thường cho T2 3.000.000 đồng, bồi thường cho V1 4.000.000 đồng, tại phiên tòa Đ bồi thường trước cho Vang 1.000.000 đồng, còn tiếp tục bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Bị cáo Ksor H7 thống nhất bồi thường cho V1 4.000.000 đồng, tại phiên tòa H7 đã bồi thường trước 1.500.000 đồng, còn tiếp tục bồi thường 2.500.000đồng cho V1. Ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và bị hại, cần buộc các bị cáo Đ, H7 phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho các bị hại.

[6] Các vấn đề liên quan khác:

Đối với hành vi của Ksor T2 dùng ghế nhựa đánh trúng vào đầu của Siu Đ và sau khi Siu Đ bỏ chạy tiếp tục rượt đánh Siu Đ nhưng không có thương tích gì và Siu Đ không có yêu cầu gì, Cơ quan điều tra đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính là đúng theo quy định.

Đối với hành vi của Ksor V1 và Ksor K2 xô xát với Ksor H7 nhưng không gây thương tích và thiệt hại gì nên không xử lý.

Đối với Siu H3: mặc dù xuất phát từ việc H3 kể với Ksor H7 về việc H3 cho rằng Ksor Trương xúc phạm mình dẫn đến S cùng đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên H’Ben không khởi xướng, xúi giục và không biết việc Siu Đ và Ksor H7 về nhà lấy dao gây thương tích cho Ksor V1 và Ksor Trương N không có căn cứ để xử lý đối với Siu H3.

Đối với xe môtô mang biển kiểm soát: 81AK-007.84 thuộc sở hữu của bà Rcom H11 (mẹ vợ của Siu Đ) cho Siu Đ mượn. Việc Siu Đ sử dụng xe môtô trên thực hiện hành vi phạm tội, bà H11 không biết nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với một số chiếc ghế nhựa tại quán của bà Nguyễn Thị P3 bị các bị cáo và người liên quan làm hư hỏng trong quá trình đánh nhau, bà P3 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[7] Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Siu Đ và bị cáo Ksor H7 còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Siu Đ, Ksor H7, Ksor K1, Ksor S và Nay K3 phạm tội Cố ý gây thương tích.

  • - Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Siu Đ.
  • - Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ksor H7.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ksor K1.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ksor S.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nay K3.

Tuyên xử:

  1. Phạt bị cáo Siu Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2024.
  2. Phạt bị cáo Ksor H7 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
  3. Phạt bị cáo Ksor K1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.
  4. Phạt bị cáo Ksor S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
  5. Phạt bị cáo Nay K3 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/11/2024.

Giao bị cáo Nay K3 cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự;

Buộc bị cáo Siu Đ phải bồi thường chi phí chữa trị và tổn hại sức khỏe cho bị hại Ksor Trương số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng), cho Ksor V1 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).

Buộc bị cáo Ksor H7 phải bồi thường chi phí chữa trị và tổn hại sức khỏe cho bị hại Ksor V1 số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí:

Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 21, Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Siu Ð, Ksor H7, Ksor K1, Ksor S và Nay K3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Buộc bị cáo Siu Đ, Ksor H7 mỗi bị cáo phải nộp 300.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo, người đại diện và người bào chữa cho bị cáo Ksor H7, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm, trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/11/2024.

Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đ ược thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Ayun Pa;
  • - CQ. CSĐT Công an TX. Ayun Pa;
  • - CQ.THA HS Công an TX. Ayun Pa;
  • - Chi cục THA DS TX. Ayun Pa
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HSVA, Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ksor H'Duen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Siu Đ và đồng phạm cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger