|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 18-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với:
- Bị cáo Phạm Văn H, sinh ngày 04/5/1974 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 02/12; con ông Phạm Đăng K và bà Trần Thị D; bị cáo có vợ và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; (có mặt).
- Bị cáo Nguyễn Khương D1, sinh ngày 19/5/1985 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 05/12; con ông Nguyễn Huy T (đã chết) và bà Dương Thị B; bị cáo có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; (có mặt).
- Bị cáo Phạm Văn X, sinh ngày 01/01/1989 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 05/12; con ông Phạm Văn D2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B1 (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 28/11/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (Bản án số 483/2014/HS-PT ngày 28/11/2014). Chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C1, ngày 22/04/2017 chấp hành xong hình phạt, án phí và các quyết định khác trong bản án, hiện nay đã được xóa án tích.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; (có mặt).
- Bị cáo Phạm Văn P, sinh ngày 01/01/1982 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 01/12; con ông Phạm Văn D2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B1 (đã chết); bị cáo có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 02/8/2023 bị Công an huyện L 6.500.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo nộp phạt hành chính ngày 10/6/2024; bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; (có mặt).
- Bị cáo Phạm Văn T1, sinh ngày 05/10/1978 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 05/12; con ông Phạm Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T3 (đã chết); bị cáo có vợ và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; (có mặt).
- Bị cáo Trần Văn S, sinh ngày 26/12/1970 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Buôn T, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 02/12; con ông Trần Văn D3 (đã chết) và bà Tạ Thị B2 (đã chết); bị cáo có vợ và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; (có mặt).
- Bị cáo Dương Văn T4, sinh ngày 05/6/1971 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Buôn T, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 05/12; con ông Dương Văn H1 (đã chết) và bà Ngô Thị N; bị cáo có vợ và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án: không; tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 11/7/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xử phạt 03 tháng tù và được khấu trừ thời gian bắt tạm giam 03 tháng về tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (Bản án số 20/2012/HS-ST ngày 11/7/2012). Đã chấp hành án việc nộp án phí và tiền phạt bổ sung, hiện nay đã được xóa án tích.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khương D1: Ông Phạm Công M - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: C L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn S: Ông Ngô Đình K1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: C L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Thị C, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ, ngày 21/7/2024, Nguyễn Khương D1 đến nhà Phạm Văn H chơi, sau đó Trần Văn S, Phạm Văn X, Đỗ Văn H2 và Nguyễn Thanh T5 cũng đến chơi. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, H, X, D1, S, Phạm Văn D2 (con trai Phạm Văn H), H2 và T5 cùng nhau nhậu tại nhà của H. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì nghỉ, H2 và T5 về nhà, D2 vào phòng để ngủ, còn H, X, D1 và S tiếp tục ngồi uống nước tại hiên nhà H. Lúc này, Phạm Văn T1 đến nhà H ngồi chơi uống nước. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, X nói “trời mưa gió làm tý bài mua đồ ăn tối đi” và rủ mọi người chơi đánh bạc thì H, S, T1, D1 đồng ý. Tất cả thống nhất với nhau chơi đánh bạc dưới hình thức chơi bài “Cào, liêng, ba lá tố” thắng thua bằng tiền.
Cách thức chơi như sau: Các bị cáo sử dụng 01 bộ bài tây 52 lá để chơi, trước khi chơi bài mỗi ván, mỗi người bỏ ra 10.000 đồng, sau đó người chơi được phát cho 03 lá bài từ bộ bài 52 lá, người được “tố” đầu tiên là người chia bài ván đó (người chia bài là người thắng của ván bài trước đó), thứ tự chơi từ phải qua trái của người chia bài, mức “tố” (tức là đặt cược thêm tiền) thêm thấp nhất là 20.000 đồng và cao nhất là 50.000 đồng. Người chơi có thể lựa chọn "tố" hoặc bỏ bài (nghĩa là không tham gia ván bài nữa), người thứ nhất “tố” xong đến người thứ hai “tố” hoặc bỏ bài, lần lượt như vậy đến khi hết người “tố”. Người thắng là người có số điểm ba lá bài cao nhất, người thắng được lấy hết tất cả số tiền mà người chơi khác đã bỏ ra cược.
Cách tính thắng thua: Ai có bài lớn nhất thì người đó thắng được tất cả số tiền đã đặt trên chiếu bạc. Thứ tự tính điểm bài từ lớn nhất đến nhỏ nhất, cụ thể: lớn nhất là “sáp” (ba lá bài giống nhau), lớn nhất trong các “sáp” là ba lá bài A (xì) và bé nhất “sáp” là ba là bài 2 (hai), tiếp theo là “liêng” (ba lá bài liên tiếp nhau không cần cùng màu, cũng chất), lớn nhất “liêng” là 03 lá Q, K, A và nhỏ nhất “liêng” là 03 lá A, 2, 3; thấp hơn “sáp” là cả 03 lá bài đều là J, Q hoặc K (các bị cáo gọi là ba con tiên), ví dụ 03 lá bài gồm J, J, K hoặc Q, Q, J. Trong đó 02 con K và một con bất kỳ như Q, J là lớn nhất, tiếp theo là tính điểm các lá bài, lá bài A (xì) tính 1 điểm, các lá bài từ 2 đến 9 tính tương ứng từ 2 đến 9 điểm, là bài 10 tính 10 điểm, lá bài J, Q, K tính 10 điểm, trong trường hợp tổng điểm của 03 lá bài lớn hơn 9 điểm thì lấy số điểm của hàng đơn vị, lớn nhất là 9 điểm và nhỏ nhất là 0 điểm.
Sau khi thống nhất thì H, X, S, T1 và D1 cũng nhau vào phòng khách nhà H lấy 01 bộ bài tây 52 lá và 01 chiếc chiếu cùng nhau tham gia đánh bài cào liêng ba lá, thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Văn P đến nhà H chơi, thấy các bị cáo đang đánh bài thì P ngồi vào cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ cũng ngày, Dương Văn T4 đến nhà H chơi, khi thấy các bị cáo đang đánh bài thì T4 ngồi xuống cùng chơi đánh bạc. H, X, S, T1, D1, P và T4 cùng nhau đánh bài cào liêng nhiều ván thắng thua bằng tiền.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện L phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang: Phạm Văn H, Nguyễn Khương D1, Phạm Văn X, Phạm Văn P, Phạm Văn T1, Trần Văn S và Dương Văn T4 đang thực hiện hành vi đánh bài cào liêng tố thắng thua bằng tiền, thu giữ trên chiếu bạc tổng số tiền 7.770.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 127/KL-GĐT Ngày 06/8/2024, Ngân hàng N1 chi nhánh huyện L kết luận: Tổng số tiền 7.770.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc tất cả là tiền thật, loại tiền Việt Nam đồng, còn giá trị lưu hành.
Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HDĐGTS ngày 19/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện L kết luận: Tổng giá trị còn lại của tài sản là căn phòng khách của gia đình Phạm Văn H trị giá 27.672.991 đồng.
Về vật chứng của vụ án và kết quả xử lý vật chứng: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành thu giữ:
- Số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 7.770.000 đồng.
- 01 bộ bài tây 52 lá, 01chiếc chiếu có kích thước (2mx1,6m), là các công các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- Đối với căn phòng khách có tổng diện tích 3,3mx5,3m =17,49m², chiều cao 2,6m, tường xây bằng gạch, tô xi măng, nền được lát gạch, trần gỗ (loại gỗ tạp), mái lợp tôn, giá trị còn lại theo kết luận định giá tài sản là 27.672.991 đồng, bị cáo H đã dùng làm địa điểm để thực hiện hành vi đánh bạc.
- 01 xe mô tô biển số 47L1-112.13, thu giữ của Dương Văn T4. Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô trên bị cáo T4 không sử dụng vào việc thực hiện hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại chiếc xe trên cho bị cáo T4.
- 01 xe mô tô biển số 47L7-5973 thu giữ của Phạm Văn T1. Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô trên bị cáo T1 không sử dụng vào việc thực hiện hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại chiếc xe trên cho bị cáo T1.
- 01 xe mô tô biển số 47L1-083.73 thu giữ của Phạm Văn P. Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô trên bị cáo P không sử dụng vào việc thực hiện hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại chiếc xe trên cho bị cáo P.
- 01 xe mô tô biển số 47N1-112.76 thu giữ của Phạm Văn X. Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô trên bị cáo X không sử dụng vào việc thực hiện hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại chiếc xe trên cho bị cáo X.
- 01 điện thoại di động Oppo Reno4, số Imei 869474052470835 thu giữ của Phạm Văn T1. Kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại trên bị cáo T1 không sử dụng vào việc thực hiện hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại chiếc điện thoại trên cho bị cáo T1.
- 01 điện thoại di động OppoA58, số Imei 886503906528287, thu giữ của Nguyễn Khương D1. Kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại trên bị cáo D1 không sử dụng vào việc thực hiện hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại chiếc điện thoại trên cho bị cáo D1.
- 01 điện thoại di động V, số Imei 1: 886357100128316, số Imei 2: 886357100128324 thu giữ của Trần Văn S. Kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại trên bị cáo S không sử dụng vào việc thực hiện hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại chiếc điện thoại trên cho bị cáo S.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Khương D1, Phạm Văn X, Phạm Văn P, Phạm Văn T1, Trần Văn S và Dương Văn T4 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk đã truy tố.
Quyết định truy tố số 16/QĐ-VKS ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk truy tố các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Khương D1, Phạm Văn X, Phạm Văn P, Phạm Văn T1, Trần Văn S và Dương Văn T4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Khương D1, Phạm Văn X, Phạm Văn P, Phạm Văn T1, Trần Văn S và Dương Văn T4 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 07 tháng đến 10 tháng cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn P từ 06 tháng đến 08 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn X từ 07 tháng đến 10 tháng cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Dương Văn T4 từ 06 tháng đến 08 tháng cải tạo không giam giữ.
- Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo H, X, P và T4 trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Khương D1 từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá, 01 chiếc chiếu có kích thước (1m6 x 2m), đây là công cụ mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
- Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước 7.770.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
- Đối với căn phòng khách có tổng diện tích 17,49m² bị cáo H sử làm địa điểm đánh bạc. Đây là tải sản chung của bị cáo H và vợ Dương Thị C nên đề nghị tịch thu ½ giả trị tài sản tương ứng với số tiền 13.836.496 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 04 chiếc xe mô tô thu giữ của các bị cáo T4, T1, P, X; 03 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo T1, D1, S. Đây là các tài sản của các bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trao trả cho các bị cáo là đúng quy định nên cần chấp nhận.
Người bào chữa cho bị cáo S và bị cáo D1 đều trình bày: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk đã truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét đến nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng như: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 34 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo S và bị cáo D1 mức hình phạt cảnh cáo. Đồng thời miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo S và bị cáo D1.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Quyết định truy tố, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, qua đó có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 14 giờ ngày 21/7/2024 đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Khương D1, Phạm Văn X, Phạm Văn P, Phạm Văn T1, Trần Văn S và Dương Văn T4 đã tham gia đánh bạc với hình thức đánh bài cào liêng tố thắng thua bằng tiền tại căn phòng khách của nhà bị cáo Phạm Văn H ở thôn K, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk với số tiền 7.770.000 đồng.
Vì vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Khương D1, Phạm Văn X, Phạm Văn P, Phạm Văn T1, Trần Văn S và Dương Văn T4 đã phạm vào tội đánh bạc theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự.
Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng và phần nào gây dư luận xấu tại địa phương. Các bị cáo là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng để nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền là bị Nhà nước ta nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, cần phải xử phạt thỏa đáng để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa đối với người khác.
[4] Vụ án này thuộc loại hình tội phạm đồng phạm đơn giản, trong đó các bị cáo đều trực tiếp tham gia đánh bạc. Để đưa ra hình phạt phù hợp, cần tiến hành phân tích đánh giá toàn diện về vai trò, tính chất hành vi, nhân thân của từng bị cáo, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[5] Các bị cáo đã cùng nhau đánh bạc bằng hình thức cào liêng, thắng thua bằng tiền. Trong đó, bị cáo H có vai trò chuẩn bị công cụ, còn bị cáo X là người khởi xướng. Do có vai trò tích cực hơn, nên hình phạt đối với hai bị cáo này sẽ nặng hơn các bị cáo còn lại.
[6] Các bị cáo còn lại (S, T1, D1, P, T4) đều tham gia đánh bạc theo lời rủ rê của bị cáo X và đã tích cực tham gia vào hành vi phạm tội. Mặc dù vậy, so với bị cáo H và X, vai trò của các bị cáo này là thấp hơn.
[7] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo H, D1, P, T1, S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[9] Bị cáo X, T4 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo T4 có mẹ ruột là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[10] Các bị cáo phạm tội đánh bạc trong một hoàn cảnh nhất thời, số tiền tham gia không lớn. Hơn nữa, với điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và hoàn cảnh sống đặc biệt của các bị cáo, việc cách ly họ khỏi cộng đồng có thể gây ra những tác động tiêu cực. Thay vào đó, biện pháp cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát chặt chẽ của chính quyền và gia đình sẽ hiệu quả hơn trong việc giáo dục, giúp các bị cáo nhận thức rõ hậu quả của hành vi phạm tội và tái hòa nhập cộng đồng.
[11] Các bị cáo D1, S, Thêm do bị rủ rê tham gia đánh bạc và có nhân thân tốt. Xét đến hoàn cảnh khó khăn của bị cáo D1 (hộ nghèo) và bị cáo S (hộ cận nghèo), việc áp dụng hình phạt phạt tiền có thể sẽ gây khó khăn trong việc thi hành án. Do đó, cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ ở mức độ phù hợp với từng bị cáo. Đối với bị cáo T1, hình phạt phạt tiền ở mức thấp sẽ là biện pháp răn đe, giáo dục phù hợp.
[12] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Các bị cáo sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biết khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
[13] Người bào chữa đề nghị xử phạt cảnh cáo đối với bị cáo D1 và S là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.
[14] Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là cơ bản phù hợp nên được chấp nhận.
[15] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 bộ bài tây 52 lá, 01 chiếc chiếu có kích thước (1m6 x 2m), đây là công cụ mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 7.770.000 đồng thu giữ được, đây là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với căn phòng khách có tổng diện tích 17,49m² bị cáo H sử làm địa điểm đánh bạc. Đây là tải sản chung của bị cáo H và vợ Dương Thị C nên cần tịch thu ½ giả trị tài sản tương ứng với số tiền 13.836.496 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 04 chiếc xe mô tô thu giữ của các bị cáo T4, T1, P, X; 03 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo T1, D1, S. Đây là các tài sản của các bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc nên chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trao trả cho các bị cáo là đúng quy định.
[16] Về án phí: Các bị cáo H, P, X, T1, T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo D1 thuộc hộ nghèo, bị cáo S nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Khương D1, Phạm Văn X, Phạm Văn P, Phạm Văn T1, Trần Văn S và Dương Văn T4 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024 là 11 ngày, bằng 33 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 07 (Bảy) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn P 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024 là 11 ngày, bằng 33 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 06 (Sáu) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn S 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024 là 11 ngày, bằng 33 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 04 (Bốn) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Khương D1 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024 là 11 ngày, bằng 33 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 04 (Bốn) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn X 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024 là 11 ngày, bằng 33 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 08 (Tám) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Dương Văn T4 07 (Bảy) tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/7/2024 đến ngày 31/7/2024 là 11 ngày, bằng 33 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 05 (Năm) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện L, tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Về khấu trừ thu nhập:
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Khương D1, Phạm Văn X, Phạm Văn P, Phạm Văn T1, Trần Văn S và Dương Văn T4.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá, 01 chiếc chiếu có kích thước (1m6 x 2m).
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 7.770.000 đồng. (Được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu T, có các chữ ký ghi tên Phạm Trung H3, Y Ân L và đóng dấu tròn màu đỏ của công an huyện L).
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lắk).
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước ½ giá trị căn phòng khách có tổng diện tích 17,49m² đương đương với số tiền 13.836.496 đồng của bị cáo Phạm Văn H.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trao trả 01 xe mô tô biển số 47L1-112.13 cho bị cáo Dương Văn T4; 01 xe mô tô biển số 47L7-5973 cho bị cáo Phạm Văn T1; 01 xe mô tô biển số 47L1-083.73 cho bị cáo Phạm Văn P; 01 xe mô tô biển số 47N1-112.76 cho bị cáo Phạm Văn X; 01 điện thoại di động Oppo Reno4, số Imei 869474052470835 cho bị cáo Phạm Văn T1; 01 điện thoại di động OppoA58, số Imei 886503906528287 cho bị cáo Nguyễn Khương D1; 01 điện thoại di động Viettel, số I 1: 886357100128316, số Imei 2: 886357100128324 cho bị cáo Trần Văn S.
Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Phạm Văn H, Phạm Văn X, Phạm Văn P, Phạm Văn T1 và Dương Văn T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Khương D1 và bị cáo Trần Văn S được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Văn Tâm |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về tội đánh bạc (khoản 1 điều 321 bộ luật hình sự)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H và 06 bị cáo phạm tội đánh bạc
