TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 29/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Huờng.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Lê -Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án huyện N, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/HSST ngày 08/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 08/5/2025 đối với các bị cáo:
- Phan Dương T (tên gọi khác: Đ) -sinh năm 1994, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không ; quốc tịch: Việt nam; con ông Phan Văn C và bà Dương Thị H; chung sống như vợ chồng với Võ Nguyễn Uyên V-sinh năm 2001 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2017; nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền sự: không. Tiền án: Ngày 18/3/2022 bị Toà án huyện N-Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 18/01/2023, T chấp hành xong hình phạt tù. Nhân thân: + Ngày 25/6/2014 bị Công an T2-T xử phạt 750.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; +Ngày 27/6/2017 bị Công an T2-T xử phạt 750.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; +Ngày 30/12/2019 bị Công an xã A-N xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; +Ngày 14/3/2024 Toà án TP. Phan Rang-T xử phạt 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/10/2023, hiện đang chấp hành án tại Trại giam S C1-Bộ C2 (có mặt tại phiên tòa).
- Phùng Lê Thành V1 (tên gọi khác: B) -sinh năm 2000, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không ; quốc tịch: Việt nam; con ông Phùng Văn T1 (chết) và bà Lê Thị H1; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Võ Thu N-sinh 2002 và có 01 người con sinh 2020. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/3/2024, bị Toà án TP .-T xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/10/2023, hiện đang chấp hành án tại Trại giam T3-Bộ C2 (có mặt tại phiên tòa).
-Bị hại: Công ty TNHH T4–Chi nhánh tại tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Bùi Quang H2 –sinh năm: 1985. Địa chỉ: Khu phố A, phường Đ, TP .-T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diện biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ sáng ngày 06/10/2023, Phùng Lê Thành V2 rủ Phan Dương T cùng đi trộm cắp dây điện để lấy lõi đồng bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi V2 chở T bằng xe mô tô của Vũ hiệu Dream biển số 85R4-9282; T mang theo 01 cây kìm cộng lực và 01 cây kìm cắt đi dạo trên đường Quốc phòng thuộc thôn H, xã A, huyện N. Khi đi đến trước Công ty TNHH T4, đoạn gần hồ nước xả thải thì T, V2 thấy phía bên trái đường (hướng N đi T) có trụ điện căng dây điện chạy dọc theo lề đường nên V2 quay xe lại đến gần trụ điện. T cầm cây kìm cộng lực leo lên một trụ điện cắt đứt 03 sợi dây điện sà xuống lề đường thì V2 chạy tới đầu dây bên kia cắt đứt 02 sợi dây điện, T trên cột điện bên kia xuống tới cắt phụ 01 đầu. Sau đó, V2 điều khiển xe chở T kéo theo 03 sợi dây điện vào khu đất trống sát lề đường để quấn dây điện bỏ vào bao. Khi mới quấn được 02 sợi thì có người dân chiếu đèn pin, sợ bị phát hiện nên T, V2 không kịp cuộn 01 sợi còn lại. Khi về đến nhà T thì T, Vũ cắt 02 dây điện vừa trộm được ra thành 04 đoạn rồi dùng dao cắt vỏ nhựa bên ngoài lấy lõi dây đồng bên trong. Sau đó, T một mình chở 04 cuộn dây đồng để đi bán. Trên đường đi thì bị tổ công tác Công an T2-T phát hiện tạm giữ T cùng tang vật. Sau đó, Công an đến nhà T mời V2 về làm việc. Tại Cơ quan Công an điều tra TP .-T, T và V2 khai nhận đã có hành vi trộm cắp số dây điện trên địa bàn huyện N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T2-T chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N điều tra theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 413 ngày 30/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận dây lõi đồng, loại dây Cadivi CV50mm, tổng chiều dài 75m, thời gian mua và sử dụng từ năm 2019 có giá trị 10.158.000đồng.
Ngoài hành vi trộm cắp trên địa bàn huyện N thì các bị cáo T, V2 còn có hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn TP .-T và bị Toà án TP .-T xét xử vào ngày 14/3/2024.
Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ và xử lý:
- -01 cuộn vỏ dây điện màu đen, đã bị lấy lõi điện bên trong; 02 cuộn dây bằng kim loại màu vàng đồng và 02 cuộn dây điện bằng kim loại màu vàng đen. Đây là tài sản của Công ty TNHH T4 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho ông Bùi Quang H2-đại diện Công ty TNHH T4.
- -Đối với 01 cây kìm cắt bằng kim loại, 01 kìm cộng lực và dao rọc giấy, 01 xe máy hiệu Dream, biển số 85R4-9282 là công cụ, phương tiện mà T và V2 dùng để thực hiện hành vi phạm tội, có liên quan đến vụ án khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T2-T đang điều tra, đề xuất xử lý nên không xét trong vụ án này.
Về dân sự: Khi nhận lại 01 cuộn vỏ dây điện màu đen đã bị lấy lõi điện bên trong; 02 cuộn dây bằng kim loại màu vàng đồng và 02 cuộn dây điện bằng kim loại màu vàng đen, không còn giá trị sử dụng nên ông Bùi Quang H2-đại diện Công ty TNHH T4 đã bán phế liệu được 1.100.000đồng. Tại phiên tòa ông H2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-HS ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát huyện N truy tố các bị cáo Phùng Lê Thành V2, Phan Dương T về tội “trộm cắp tài sản” tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phần tranh luận Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Phùng Lê Thành V2 từ 09 đến 12 tháng tù. Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Phan Dương T từ 12 đến 15 tháng tù.
Các bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên. Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nội dung vụ án: Vào khoảng 02 giờ sáng ngày 06/10/2023, Phùng Lê Thành V2 rủ Phan Dương T đi trộm cắp dây điện lấy lõi đồng bán lấy tiền tiêu xài. Khi các bị cáo đi đến trước Công ty TNHH T4, thấy phía bên trái đường có trụ điện căng dây điện chạy dọc theo lề đường nên các bị cáo đến gần trụ điện. T trực tiếp leo lên trụ điện cắt 03 sợi dây điện rơi xuống đất còn V2 đứng dưới cắt đứt 02 đầu dây điện, T từ trụ điện xuống phụ cắt 01 đầu dây còn lại, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 10.158.000đồng. Sau đó, cả hai cắt dây điện trộm được thành 04 cuộn và dùng dao rọc lấy lõi đồng bên trong, T trực tiếp đưa đi bán. Trên đường đi chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo V2 là người rủ rê khởi xướng, bị cáo T là người chuẩn bị công cụ, các bị cáo đều là người thực hành. Lời khai các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, kết quả tranh luận tại phiên tòa. HĐXX kết luận các bị cáo T và V2 phạm tội “trộm cắp tài sản” tại Khoản 1 Điều 173 BLHS, đúng như cáo trạng Viện kiểm sát huyện N truy tố.
[3] Xét các bị cáo đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính tham lam, lười lao động nên các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Công ty TNHH T4. Vì vậy cần phải đưa các bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:
[4.1] Đối với bị cáo Phan Dương T: là người có nhân thân xấu, từng bị Công an T2-T xử phạt hành chính 02 lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào năm 2014 và 2017. Năm 2019 bị Công an xã A-N xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo là người có tiền án bị Toà án huyện N xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 18/01/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Toà án TP .-T xử phạt 24 tháng tù vào ngày 14/3/2024, bản án có hiệu lực pháp luật. Tại địa bàn huyện N bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 06/10/2023, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xoá án tích, thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bồi thường một phần để khắc phục hậu quả, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS;
[4.2] Đối với bị cáo Phùng Lê Thành V2: là đồng phạm với Phan Dương T về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại địa bàn TP .-T và bị Toà án TP .-T xử phạt 18 tháng tù vào ngày 14/3/2024, bản án có hiệu lực pháp luật. Tại địa bàn huyện N bị cáo và T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 06/10/2023. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bồi thường một phần để khắc phục hậu quả, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát huyện N về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, HĐXX xét thấy là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên chấp nhận.
[6] Tại bản án số 40/2024/HSST ngày 14/3/2024 của Toà án TP .-T-Ninh Thuận xử phạt bị cáo Phan Dương T 24 tháng tù và xử phạt Phùng Lê Thành V2 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Vì vậy HĐXX quyết định hình phạt của tội đang xét xử và tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án theo Điều 56 BLHS.
[7] Về dân sự: Tại phiên tòa ông Bùi Quang H2-đại diện Công ty TNHH T4 không yêu cầu các bị cáo T và V2 bồi thường tài sản của công ty bị thiệt hại nên HĐXX không xét.
Đối với số tiền 1.000.000₫ mà chị Võ Nguyễn Uyên V (vợ bị cáo T) đã nộp theo biên lai thu số 0000681 ngày 28/5/2024 và số tiền 1.000.000₫ mà anh Phùng Lê Ngọc K (người nhà bị cáo V2) đã nộp theo biên lai thu số 0000682 ngày 29/5/2024, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận, để bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho Công ty TNHH T4 thì ông Bùi Quang H2-đại diện công ty có ý kiến đề nghị HĐXX trả lại số tiền này cho các bị cáo và các bị cáo đồng ý nhận. Xét ý kiến của ông Bùi Quang H2 là hoàn toàn tự nguyện, vì vậy HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
- -Tuyên bố: Bị cáo Phan Dương T phạm tội “trộm cắp tài sản”.
- -Xử phạt: Bị cáo Phan Dương T 12 (mười hai) tháng tù.
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
- -Tuyên bố: Bị cáo Phùng Lê Thành V2 phạm tội “trộm cắp tài sản”.
- -Xử phạt: Bị cáo Phùng Lê Thành V2 09 (chín) tháng tù.
- Áp dụng: Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù theo Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 14/3/2024 của Toà án nhân dân TP. Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận. Buộc bị cáo Phan Dương T phải
chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 06/10/2023).
Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù theo Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 14/3/2024 của Toà án nhân dân TP. Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận. Buộc bị cáo Phùng Lê Thành V2 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 06/10/2023).
- Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa đại diện bị hại và các bị cáo tại phiên tòa về số tiền mà gia đình các bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- +Trả lại cho bị cáo Phan Dương T: Số tiền 1.000.000₫ (một triệu đồng) mà chị Võ Nguyễn Uyên V (vợ bị cáo T) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận theo biên lai thu số 0000681 ngày 28/5/2024.
- +Trả lại cho bị cáo Phùng Lê Thành V2: Số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) mà anh Phùng Lê Ngọc K (người nhà bị cáo V2) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận theo biên lai thu số 0000682 ngày 29/5/2024.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Phan Dương T, Phùng Lê Thành V2, mỗi người phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, bị hại-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/5/2023).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM T THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Dương T. và Phùng Lê Thành V. về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
