|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 24/4/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Hoàng Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đào Thị Thanh Thơm.
ông Trần Văn Nghi.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Phạm Văn Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.
Ngày 24/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/HSST ngày 20/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024, đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Trung T, sinh năm 2000, tại huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm 14B, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: công giáo; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị L; vợ: Vũ Thị Phương H; có 1 con sinh tháng 3/2024; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, đến ngày 03/01/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện K cho đến nay “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; nơi cư trú: xóm 14B, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
- Người làm chứng: anh Trần Trọng Đ, anh Ninh Thành H1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, chiều ngày 26/12/2023 Nguyễn Trung T điều khiển xe môtô BKS 35K1 - 152.43 từ nhà đến khu vực nghĩa địa thuộc xóm 1, xã Đ, huyện K mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó T cầm ở lòng bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng. Đến 14 giờ 25 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường dong đối diện với Nhà nghỉ “H” thuộc tổ 2, phố Phú Vinh, thị trấn Phát Diệm, huyện K thấy vắng người nên dừng lại định lấy ma túy ra để kiểm tra thì bị Tổ công tác của Công an huyện K phối hợp với Công an thị trấn Phát Diệm đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang.
Thu giữ trên tay trái T 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng có chữ in màu đen và xe môtô nhãn hiệu Honda 35K1 - 152.43.
Tiến hành mở niêm phong gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng có chữ in màu đen bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,26 gam (ký hiệu M) để trưng cầu giám định.
Tại kết luận giám định số 90/KL-KTHS-MT ngày 02/01/2024 của phòng KTHS - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định kí hiệu M có khối lượng 0,2625 gam, là ma túy, loại Heroine”.
Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 19/3/2024 VKSND huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát huyện K vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/12/2023.
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì ghi số 90/KL-KTHS-MT bên trong có mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M bên trong có 0,1999 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì trên trong có 01 mảnh giấy màu trắng có chữ in màu đen và 01 phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của Nguyễn Trung T.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi nêu trên. Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, tội danh và điều luật áp dụng: tại phiên tòa bị cáo khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên đầu giờ chiều giờ ngày 26/12/2023, bị cáo mượn xe môtô của ông Nguyễn Văn T1 (bố đẻ) đi đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm 1, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình mua được 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, bị cáo cầm gói ma túy đi tìm nơi sử dụng, khoảng 14 giờ 25 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường đối diện nhà nghỉ “H” thuộc tổ 2, phố Phú Vinh, thị trấn Phát Diệm, huyện K, tỉnh Ninh Bình, thì bị tổ công tác Công an thị trấn Phát Diệm và Công an huyện K kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy mà bị cáo vừa mua và 01 xe môtô. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, Biên bản cân xác định khối lượng, Kết luận giám định gói bột thu giữ của bị cáo và lời khai của người làm chứng đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép 0,2625 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- c, Heroine, Cocaine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: không.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi đối chiếu về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo, thì hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật bằng hình thức cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không mang tính chất vụ lợi. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về nguồn gốc số ma túy: bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực nghĩa trang thuộc xóm 1, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình, bị cáo không quen biết người đó, có gặp lại cũng không nhận dạng được. Vì vậy, cơ quan điều tra Công an huyện K không đủ cơ sở để điều tra.
[5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda BKS 35K1-152.43 thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra xác định chiếc xe nói trên là tài sản của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; trú tại: xóm 14B, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình (là bố đẻ của bị cáo). Ông T1 không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe nói trên cho ông T1 là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì ghi số 90/KL-KTHS-MT bên trong có mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M bên trong có 0,1999 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì trên trong có 01 mảnh giấy màu trắng có chữ in màu đen và 01 phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của bị cáo. Đây là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 34; Điều 45; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 254; Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 26/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì ghi số 90/KL-KTHS-MT bên trong có mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M bên trong có 0,1999 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì trên trong có 01 mảnh giấy màu trắng có chữ in màu đen và 01 phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của bị cáo.
(Chi tiết vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22/3/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện K với Chi cục THADS huyện K)
3. Về án phí:
buộc bị cáo Nguyễn Trung T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Ngọc Hưng |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
