|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HS-ST
Ngày: 17-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đồng và bà Lê Thị Huyền Thương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Bát - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Phan Hồng S; sinh ngày 27/12/2005, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: P và bà Lê Thị Kim T.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp bắt tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 03/10/2023, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên toà.
-
Hồ Ngọc L; sinh ngày 10/01/2005, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Hoài L1 và bà Lê Thị P.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp bắt tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 15/12/2023, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên toà.
-
Đỗ Văn T1; sinh ngày 05/01/2005, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn T2 và bà Đặng Thị Lệ H.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp bắt tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 03/10/2023, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên toà.
-
Hồ Minh Q. Sinh ngày 14/11/2004, tại Quảng Trị. Nơi cư trú: Khu phố A, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Duy T3 và bà Phan Thị H1.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 24/5/2024, bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử về tội “Rửa tiền” tại bản án số 35/2024/HS-ST.
- Ngày 03/5/2024, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q khởi tố bị can về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 290 của Bộ luật Hình sự theo Quyết định khởi tố bị can số 16/QĐ-ĐTTH.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 16/12/2023, ngày 17/12/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam trong vụ án khác bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q khởi tố ngày 03/5/2024 – Có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Minh H2; sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ dân phố A, số nhà A, đường T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình – Có mặt tại phiên toà.
- Bà Trương Thị N; sinh năm 1984; địa chỉ: A H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng – Vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Phương T4; sinh năm 2006; địa chỉ: A H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Vụ thứ nhất: Ngày 23/01/2022, bị cáo Phan Hồng S và bị cáo Hồ Ngọc L cùng nhau đến quán I ở Khu phố D, Phường C, thị xã Q, thực hiện hành vi thông qua mạng internet chiếm đoạt tài sản của người khác. Tại quán I, bị cáo S và bị cáo L sử dụng tài khoản Facebook “Tôm H” vào các nhóm mua bán trên mạng xã hội nhằm tìm người để thực hiện. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, S nhắn tin với tài khoản Facebook có tên “T5 (Cho Thuê Trang Phục)” của chị Nguyễn Thị Minh H2 – Sinh năm 1997, trú tại: phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, đặt mua 01 cái váy với giá 120.000đồng, rồi xin số tài khoản chuyển tiền thì được cung cấp số tài khoản 922119911996 thuộc thuộc ngân hàng TMCP Q1 (M) mang tên Nguyễn Thị Minh H2. Lúc này, S tạo một hình ảnh có chứa nội dung đã chuyển 120.000đồng và gửi cho chị H2 đường link https://payment-moneyygramvn.weebly.comcó kèm một mã giao dịch. Khi chị H2 truy cập vào đường link nói trên và điền các thông tin như: Số tài khoản ngân hàng, số điện thoại, mật khẩu, mã giao dịch thì S dùng máy điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi đăng nhập vào tài khoản ngân hàng của chị H2, đến mục Digital OTP cài đặt tạo mã pin chuyển tiền (mục đích nhằm thay mã OTP xác nhận việc chuyển tiền), nhưng cần phải có mã OTP xác thực nên S yêu cầu chị H2 gửi mã OTP thì bị chị H2 nghi ngờ, không gửi. Do đó, S vào cách xác thực thứ hai bằng mã QR rồi chụp ảnh gửi cho chị H2 và yêu cầu xác nhận để nhận tiền thì chị H2 thực hiện nên S chiếm được quyền quản lý tài khoản ngân hàng của chị H2. Sau đó, S thay đổi mật khẩu đăng nhập (để tránh việc chị H2 cùng lúc đăng nhập vào tài khoản) và kiểm tra tài khoản thì thấy bên trong có 390.600.000 đồng tiết kiệm, S liền chuyển số tiền này từ tài khoản tiết kiệm ra tài khoản thẻ ngân hàng của chị H2 mà S vừa chiếm đoạt được, rồi chuyển số tiền này qua 03 lần khác nhau, cụ thể:
-
- Lần thứ nhất: Bị cáo Phan Hồng S đã liên lạc với bị cáo Đỗ Văn T1, nhờ tìm tài khoản nhận và rút tiền giúp, nên T1 thông qua ứng dụng mạng xã hội Telegram liên hệ với một đại lý G1, rồi cung cấp cho S số tài khoản 1018051181 thuộc ngân hàng TMCP N2 (V) mang tên Nguyễn Hồng P1, để S chuyển 245.000.000 đồng trong tài khoản của chị H2 qua số tài khoản này cho T1 mua tiền Game, số tiền được chuyển tiếp đến số tài khoản 19035813550015 thuộc ngân hàng TMCP K1 (T9) mang tên Phạm Văn K thì không xác định được tài khoản nhận tiền tiếp theo. Còn T1 khi nhận ảnh hóa đơn chuyển 245.000.000 đồng thành công do S chuyển sang thì được đại lý G1 chuyển tiền Game về, Tứ bán lại tiền Game này cho Đặng Văn C - Sinh năm: 1991, trú tại: khu phố A, phường C, thị xã Q, được 170.000.000 đồng, C dùng số tài khoản 124253478 thuộc ngân hàng TMCP V1 (V2) chuyển 170.000.000 đồng sang số tài khản 0501200568688 thuộc ngân hàng M cho T1 và T1 tiếp tục chuyển số tiền này về số tài khoản 2201236789 thuộc ngân hàng M của Phan Hồng S 03 lần, gồm: 10.000.000 đồng, 5.000.000 đồng và 155.000.000 đồng. Như vậy, S đã nhận được số tiền 170.000.000 đồng từ số tiền 245.000.000 đồng chiếm đoạt của chị H2.
-
- Lần thứ hai: Bị cáo Phan Hồng S liên hệ với bị cáo Hồ Minh Q nhờ nhận và rút 100.000.000 đồng trong tài khoản của chị H2 với mức phí 30% (trong đó Q thực tế được hưởng 15%) thì được Q cung cấp số tài khoản 215003092153 thuộc ngân hàng TMCP Đ (B) mang tên Phan Huy H3 (được Q lấy từ một người không quen biết có tài khoản T6 là C1) để S chuyển số tiền này. Sau khi tiền chuyển đến số tài khoản 215003092153 thì tiếp tục được chuyển qua các tài khoản ngân hàng khác nhau, gồm:
- + Số tài khoản 1014110440 thuộc ngân hàng V mang tên Mai Cao T7.
- + Số tài khoản 19035858622017 thuộc ngân hàng T9 mang tên Mai Cao T7.
- + Số tài khoản 0070110035002 thuộc ngân hàng M mang tên Mai Cao T7.
- + Số tài khoản 106872390951 thuộc ngân hàng TMCP C4 (V3) mang tên Lê Hoàng A.
Sau đó, số tài khoản 106872390951 thuộc ngân hàng V3 mang tên Lê Hoàng A chuyển vào số tài khoản ngân hàng D thuộc ngân hàng V3 mang tên Hồ Minh Quân số tiền 85.000.000 đồng (đã trừ phí 15% = 15.000.000 đồng). Khi nhận được tiền, Q tiếp tục trừ phí 15% và chuyển số tiền còn lại là 70.000.000 đồng vào số tài khoản 2201236789 thuộc ngân hàng M mang tên Phan Hồng S.
-
- Lần thứ ba: Bị cáo Phan Hồng S chuyển 45.600.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của chị H2 đến số tài khoản 1016973530 thuộc ngân hàng V mang tên Trần Văn H4 để mua tiền G, rồi 45.600.000 đồng lần lượt được chuyển đến số tài khoản 2222226021982 thuộc ngân hàng M mang tên Hoàng Văn L2 và số tài khoản 1023557705 thuộc ngân hàng V mang tên Hoàng Văn L2 thì không xác định được tài khoản nhận tiền tiếp theo. Sau khi nhận được tiền thì người bán tiền G không chuyển lại tiền và cắt liên lạc nên 45.600.000 đồng này S không lấy lại được.
Như vậy, 390.600.000 đồng chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Minh H2 thì chi phí các lần rút tiền hết 105.000.000 đồng (trong đó Hồ Minh Q nhận 15.000.000 đồng), bị người bán Game chiếm đoạt 45.600.000 đồng, còn lại Phan Hồng S nhận được là 240.000.000 đồng.
Trong 240.000.000 đồng, S đưa cho Đỗ Văn T1 7.000.000 đồng và cho Hồ Ngọc L 3.000.000 đồng, S tiêu xài cá nhân hết 155.800.000 đồng, còn 74.200.000 đồng thì S và L tiêu xài chung hết.
2. Vụ thứ hai: Vào ngày 19/02/2022, bị cáo Phan Hồng S cùng bị cáo Hồ Ngọc L và bị cáo Đỗ Văn T1 đến quán I ở khu phố D, phường C, thị xã Q, để cùng nhau thực hiện hành vi thông qua mạng Internet để chiếm đoạt tài sản của người khác. L và S sử dụng tài khoản Facebook có tên “Mỹ Liên” vào các hội nhóm mua bán trên mạng xã hội tìm người để chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, L đã nhắn tin với tài khoản Facebook “Phuong Thao” của chị Nguyễn Phương T4 - Sinh năm 2006, trú tại: phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng đặt mua 01 cái túi xách với giá 80.000 đồng, phí ship hàng là 40.000 đồng, rồi hỏi số tài khoản để chuyển tiền mua nên chị T4 gửi số tài khoản 1019707226 thuộc ngân hàng V mang tên Trương Thị N – Sinh năm: 1984 (là mẹ ruột của T4) qua thì L gửi cho chị T4 một đường Link nhằm đánh cắp thông tin tài khoản ngân hàng nhưng đường Link này bị lỗi không sử dụng được. Vì vậy, T1 vào dùng máy tính của L gửi một đường Link khác cho chị T4. Lúc này, chị T4 vào đường link do T1 gửi tới và điền các thông tin như: Số điện thoại, số tài khoản ngân hàng, mật khẩu, mã OTP. Sau khi có đủ các thông tin, T1 sử dụng máy điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi đăng nhập vào tài khoản ngân hàng của chị N để chiếm đoạt quyền quản lý và biết bên trong có 76.000.000 đồng nên T1 02 lần chuyển, gồm: 50.000.000 đồng và 26.000.000 đồng vào số tài khoản 21510003092153 thuộc ngân hàng B mang tên Phan Huy H3, số tiền được tiếp tục được chuyển qua các tài khoản ngân hàng khác, gồm:
- + Số tài khoản 1014110440 thuộc ngân hàng V mang tên Mai Cao T7.
- + Số tài khoản 19035858622017 thuộc ngân hàng T9 chủ tài khoản mang tên Mai Cao T7.
- + Số tài khoản 0070110035002 thuộc ngân hàng M mang tên Mai Cao T7.
- + Số tài khoản 106872390951 thuộc ngân hàng V3 mang tên Lê Hoàng A.
Sau đó, số tài khoản 106872390951 thuộc ngân hàng V3 mang tên Lê Hoàng A chuyển lại 64.600.000 đồng (đã trừ đi phí nhận và rút tiền là 11.400.000 đồng) vào số tài khoản 045204001436 thuộc ngân hàng V3 mang tên Hồ Minh Q. Q tiếp tục trừ phí liên hệ nhận và rút tiền giúp là 11.400.000 đồng và chuyển số tiền còn lại là 53.200.000 đồng vào số tài khoản 0501200568688 thuộc ngân hàng M mang tên Đỗ Văn T1. Sau đó, T1 chuyển 15.000.000 đồng vào số tài khoản 2201236789 thuộc ngân hàng M mang tên Phan Hồng S. Tứ được hưởng lợi 15.000.000 đồng, L được hưởng lợi 20.000.000 đồng, còn lại 3.200.000 đồng thì T1, S và L cùng sử dụng vào việc thanh toán tiền internet và nước uống tại quán.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Ngày 10/5/2024, bị cáo Phan Hồng S, bị cáo Đỗ Văn T1 và bị cáo Hồ Ngọc L đã trực tiếp bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 tổng số tiền 140.000.000đồng (S đã bồi thường 70.000.000 đồng, T1 đã bồi thường 50.000.000 đồng và L đã bồi thường 20.000.000 đồng).
- - Chị Nguyễn Thị Minh H2 yêu cầu các bị cáo Phan Hồng S, Đỗ Văn T1, Hồ Ngọc L, Hồ Minh Q tiếp tục bồi thường số tiền 250.600.000 đồng còn lại và chị Trương Thị N yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 76.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và trước khi xét xử, bị cáo, người nhà của các bị cáo Phan Hồng S đã nộp 50.000.000 đồng, bị cáo Đỗ Văn T1 đã nộp 30.000.000 đồng, bị cáo Hồ Ngọc L đã nộp 15.000.000 đồng, bị cáo Hồ Minh Q đã nộp 15.000.000 đồng để khắc phục một phần thiệt hại do các bị cáo gây ra.
Cáo trạng số: 13/CT-VKS-TXQT ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố: Bị cáo Hồ Minh Q phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật hình sự; các bị cáo: Phan Hồng S, Đỗ Văn T1 và Hồ Ngọc L phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 290 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị như sau:
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Hồng S từ 33 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Ngọc L từ 30 đến 33 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn T1 từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, nhân đôi thời gian thử thách.
Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 56; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Minh Q từ 07 đến 12 tháng tù, thời hạn tù được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 16/12/2023. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù về tội "Rửa tiền" tại Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xử phạt từ: 13 đến 18 tháng tù, trừ thời giam đã tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 16/12/2023.
- Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 586, 587 Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo có trách nhiệm phải liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N, trách nhiệm bồi thường được xác định như sau:
- + Bị cáo Phan Hồng S phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N tổng số tiền là 184.700.000 đồng. Trong đó, chị H2là 168.500.000 đồng và chị N là 16.200.000đồng được trừ đi số tiền đã giao nộp là 50.000.000 đồng. Số tiền còn lại phải bồi thường là 134.700.000 đồng.
- + Bị cáo Hồ Ngọc L phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị H2 và chị N tổng số tiên là 41.100.000 đồng. Trong đó, chị H2 là 20.100.000 đồng và chị N là 21.000.000 đồng, được trừ đi số tiền đã giao nộp là 15.000.000 đồng. Số tiền còn lại phải bồi thường là 26.100.000 đồng.
- + Bị cáo Đỗ Văn T1 phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị H2 và chị N tổng số tiền là 48.000.000 đồng. Trong đó, chị H2 là 32.000.000 đồng và chị N là 16.000.000 đồng được trừ đi số tiền đã giao nộp là 30.000.000 đồng. Số tiền còn lại phải bồi thường là 18.000.000đồng.
- + Bị cáo Hồ Minh Q phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị H2 và chị N tổng số tiền 52.800.000 đồng. Trong đó, chị H2 là 30.000.000 đồng và chị N là 22.800.000 đồng được trừ đi số tiền đã giao nộp là 15.000.000 đồng. Số tiền còn lại phải bồi thường là 37.800.000 đồng.
- Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc các bị cáo Phan Hồng S, Hồ Ngọc L, Đỗ Văn T1, Hồ Minh Q chịu án phí theo quy định.
- Đối với các hành vi mà các bị cáo, đối tượng khác thực hiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiến hành điều tra, làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý, giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Vào các ngày 23/01/2022, ngày 19/02/2022, các bị cáo Phan Hồng S, Hồ Ngọc L, Đỗ Văn T1 và Hồ Minh Q (khi đủ 16 tuổi) đã sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, truy cập bất hợp pháp tài khoản, chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thị Minh H2 390.600.000 đồng và của chị Trương Thị N 76.000.000 đồng. Trong đó:
- - Các bị cáo Phan Hồng S và Hồ Ngọc L đã thống nhất và cùng nhau thực hiện việc chiếm đoạt tổng số tiền là 466.600.000 đồng của chị H2 và chị N.
- - Bị cáo Đỗ Văn T1 trực tiếp tham gia cùng với bị cáo S, bị cáo L chiếm đoạt 76.000.000đồng của chị Trương Thị N và cung cấp số tài khoản ngân hàng nhận rút tiền để giúp sức cho S, L chuyển 245.000.000 đồng chiếm đoạt được của chị H2.
- - Bị cáo Hồ Minh Q cung cấp số tài khoản ngân hàng nhận rút tiền để giúp sức cho cho các bị cáo S, L, T1 chuyển 100.000.000đồng chiếm đoạt được của chị H2 và 76.000.000đồng chiếm đoạt được của chị N.
Hành vi trên của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh mạng viễn thông, đồng thời xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị truy tố bị cáo Hồ Minh Q về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định ở các điểm b, đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo: Phan Hồng S, Đỗ Văn T1 và Hồ Ngọc L về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 290 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt:
Các bị cáo Phan Hồng S, Hồ Ngọc L, Đỗ Văn T1 và Hồ Minh Q là đồng phạm trong việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Minh H2 390.600.000 đồng và của chị Trương Thị N 76.000.000 đồng, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức.
- - Đối với bị cáo Phan Hồng S là người trực tiếp vào các nhóm mua bán trên mạng xã hội nhằm tìm người để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản, liên lạc với Đỗ Văn T1 và Hồ Minh Q để rút tiền và phải chịu số tiền bồi thường là 254.700.000đồng, cao nhất trong vụ án. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, là người dưới 18 tuổi. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; được chị H2 xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có công cách mạng, thờ phụng Liệt sĩ Phan Mót (có xác nhận của UBND xã H), là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và hiện đã đăng ký đi học lái xe tại Trường T10 để mong có nghề nghiệp ổn định. Vì vậy, cần căn cứ điểm a khoản 3 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo S hình phạt tù cho hưởng án treo là thỏa đáng và cũng tạo điều kiện để bị cáo tiếp tục học tập, lao động có thu nhập bồi thường thiệt hại.
- - Đối với bị cáo Hồ Ngọc L đã cùng với bị cáo Phan Hồng S vào các nhóm mua bán trên mạng xã hội, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Minh H2, chị Trương Thị N tổng số tiền 466.600.000 đồng và phải chịu số tiền bồi thường là 61.100.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, là người dưới 18 tuổi. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; được chị H2 xin giảm nhẹ hình phạt, là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo L có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L hình phạt tù cho hưởng án treo là phù hợp.
- - Đối với bị cáo Đỗ Văn T1 là người giúp sức cho các bị cáo Phan Hồng S và Hồ Ngọc L rút số tiền 245.000.000 đồng trong số tiền chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Minh H2, trực tiếp tham gia vào việc chiếm đoạt của chị Trương Thị N 76.000.000 đồng, phải chịu số tiền bồi thường là 98.000.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, là người dưới 18 tuổi. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; được chị H2 xin giảm nhẹ hình phạt là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và hiện đã đăng ký đi học lái xe tại Trường T10 để mong có nghề nghiệp ổn định. Vì vậy, cần căn cứ điểm a khoản 3 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T1 hình phạt tù cho hưởng án treo là thỏa đáng và cũng tạo điều kiện để bị cáo tiếp tục học tập, lao động có thu nhập bồi thường thiệt hại.
- - Đối với bị cáo Hồ Minh Q, là người giúp sức cho các bị cáo Phan Hồng S, Đỗ Văn T1 và Hồ Ngọc L rút số tiền 100.000.000 đồng trong số tiền chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Minh H2, 76.000.000 đồng chiếm đoạt được của chị Trương Thị N, phải chịu số tiền bồi thường là 52.800.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, là người dưới 18 tuổi. Trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, bị cáo đã bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù về tội “Rửa tiền” tại Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/5/2024; ngày 03/5/2024, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q khởi tố bị can về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự, nên căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự cần xử phạt bị cáo Q hình phạt tù và buộc chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định. Việc tổng hợp hình phạt 06 tháng tù của bản án trước và hình phạt của vụ án hiện tại theo Điều 65 của Bộ luật hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 586, 587 Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo có trách nhiệm phải liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N, trách nhiệm bồi thường được xác định như sau:
- - Bị cáo Phan Hồng S phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N tổng số tiền 184.700.000 đồng. Trong đó, bồi thường cho chị H2 168.500.000 đồng và bồi thường cho chị N 16.200.000 đồng, được trừ đi số tiền đã giao nộp là 50.000.000 đồng. Số tiền còn lại phải bồi thường là 134.700.000 đồng.
- - Bị cáo Hồ Ngọc L phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N tổng số tiền 41.100.000 đồng. Trong đó, bồi thường cho chị H2 20.100.000 đồng và bồi thường cho chị N 21.000.000 đồng, được trừ đi số tiền đã giao nộp là 15.000.000 đồng. Số tiền còn lại phải bồi thường là 26.100.000 đồng.
- - Bị cáo Đỗ Văn T1 phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị H2 và chị N tổng số tiền là 48.000.000 đồng. Trong đó, bồi thường cho chị H2 32.000.000 đồng và bồi thường cho chị N 16.000.000 đồng, được trừ đi số tiền đã giao nộp là 30.000.000 đồng. Số tiền còn lại phải bồi thường là 18.000.000 đồng.
- - Bị cáo Hồ Minh Q phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N tổng số tiền 52.800.000 đồng. Trong đó, bồi thường cho chị H2 30.000.000 đồng và bồi thường cho chị N 22.800.000 đồng, được trừ đi số tiền đã giao nộp là 15.000.000 đồng. Số tiền còn lại phải bồi thường là 37.800.000 đồng.
[5] Về án phí: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
- Bị cáo Phan Hồng S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.735.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (5% x 134.700.000 đồng).
- Bị cáo Hồ Ngọc L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.305.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (5% x 26.100.000 đồng).
- Bị cáo Đỗ Văn T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (5% x 18.000.000đồng).
- Bị cáo Hồ Minh Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.890.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (5% x 37.800.000 đồng).
[6] Đối với hành vi khác mà các bị cáo và các đối tượng khác thực hiện:
-
Đối với bị cáo Phan Hồng S, quá trình sao kê tài khoản ngân hàng thấy có nhiều mã giao dịch khác nhưng bị cáo S khai chỉ nhớ mã giao dịch vào ngày 23/01/2022 do bị cáo Hồ Minh Q chuyển đến có liên quan đến hành vi phạm tội nói trên nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã thông báo tìm bị hại và tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý, giải quyết theo quy định.
-
Đối với hành vi của bị cáo Đỗ Văn T1 đã mua, bán tiền Game W88 là có dấu hiệu của tội phạm “Đánh bạc”. Tuy nhiên, hiện tại không thể xác định được tài khoản Game mà T1 đã sử dụng giao dịch, cũng như lịch sử giao dịch mua bán tiền Game. Bên cạnh đó, quá trình liên lạc với đại lý G1 thông qua mạng xã hội Telegram, T1 sử dụng tài khoản lập từ sim không chính chủ nên T1 không nhớ được tài khoản mà mình đã sử dụng cũng như tài khoản Telegram của đại lý G1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đang tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ hành vi “Đánh bạc” của Tứ khi đủ căn cứ sẽ xử lý, giải quyết theo quy định.
Việc nhận, chuyển, rút tiền giúp cho bị cáo Phan Hồng S của bị cáo T1 có dấu hiệu của tội “Rửa tiền”. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định trước khi thực hiện S và T1 có thoả thuận với nhau trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của T1 là giúp sức cho S để chiếm đoạt tài sản của người khác. Đồng thời Cục P2, Truyền hình và Thông tin điện tử không thẩm định, cấp bất cứ giấy phép hoạt động cho các phần mềm, trò chơi ứng dụng nào có liên quan đến đến ứng dụng Game “W88” nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q chưa đủ căn cứ để xử lý hành vi “Rửa tiền” của T1 và đang tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ hành khi đủ căn cứ sẽ xử lý, giải quyết theo quy định.
Ngoài ra, quá trình sao kê tài khoản ngân hàng của Đỗ Văn T1 thấy có nhiều mã giao dịch khác nhưng T1 khai chỉ nhớ mã giao dịch vào ngày 19/02/2022, có liên quan đến hành vi phạm tội nói trên nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã Thông báo tìm bị hại và tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ, khi đủ căn cứ, cơ sở sẽ xử lý, giải quyết theo quy định.
-
Đối với bị cáo Hồ Minh Q, quá trình sao kê tài khoản ngân hàng thấy có nhiều mã giao dịch khác nhưng Q khai chỉ nhớ hai mã giao dịch vào ngày 23/01/2022 và 19/02/2022 có liên quan đến hành vi phạm tội nói trên nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã thông báo tìm bị hại và tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ, khi đủ căn cứ, cơ sở sẽ xử lý, giải quyết theo quy định.
Đối với hành vi nhận, chuyển, rút tiền cho Phan Hồng S của Q có dấu hiệu của tội “Rửa tiền”. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định S và Q có thoả thuận với nhau trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của Q là giúp sức cho S để chiếm đoạt tài sản của người khác. Đồng thời, chưa xác định được chủ tài khoản Telegram C2 là người đã cấp tài khoản ngân hàng B mang tên Phan Huy H3 cho Q nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Q về tội “Rửa tiền”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đang tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ hành vi “Rửa tiền” của Q khi đủ căn cứ sẽ xử lý, giải quyết theo quy định.
-
Đối với Lê Hoàng A - Sinh năm 1995, trú tại: D K, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội, là người đứng tên chủ tài khoản số [...] thuộc ngân hàng V, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đã phối hợp Công an quận B tiến hành xác minh nhưng Anh không có mặt tại địa phương, không xác định được hiện nay đang ở đâu, làm gì nên chưa đủ cơ sở để xác định Anh có phải là người đang quản lý và thực hiện hành vi nhận, chuyển tiền đối với tài khoản ngân hàng trên hay không. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã ra quyết định truy tìm người đối với A và sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định. Bên cạnh đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành xác minh thông tin liên quan đến số thuê bao điện thoại “0346.581.xxx”, được sử dụng để mở tài khoản ngân hàng trên nhưng hiện tại chưa có kết quả trả lời nên đang tiếp tục điều tra làm rõ.
-
Đối với Mai Cao T7 - Sinh năm 1985, trú tại: Xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình, là người đứng tên chủ các tài khoản số 19035858622017 thuộc ngân hàng T9; tài khoản số 1014110440 thuộc ngân hàng V và tài khoản số 0070110035002 thuộc ngân hàng M, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đã phối hợp Công an huyện K, tiến hành xác minh nhưng Mai Cao T7 không có mặt tại địa phương, không xác định được hiện nay đang ở đâu, làm gì nên chưa đủ cơ sở để xác định T7 có phải là người đang quản lý và thực hiện hành vi nhận, chuyển tiền trong các tài khoản ngân hàng trên hay không. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đã ra quyết định truy tìm người đối với Mai Cao T7 và sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định. Bên cạnh đó, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành xác minh thông tin liên quan đến số thuê bao điện thoại “0329.254.xxx” được sử dụng để mở các tài khoản ngân hàng trên nhưng hiện tại chưa có kết quả trả lời nên đang tiếp tục điều tra làm rõ.
-
Đối với Phan Huy H3 - Sinh năm 1996, trú tại: Phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương là người đứng tên chủ tài khoản số 9850188686666 thuộc ngân hàng M. Quá trình điều tra, H3 khai không mở tài khoản ngân hàng và cũng không cho ai mượn thông tin để mở tài khoản ngân hàng trên. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết trên hồ sơ mở tài khoản ngân hàng với chữ viết của H3. Tuy nhiên, do mẫu giám định không đảm bảo nên cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đang tiếp tục thu thập tài liệu để phục vụ việc giám định. Bên cạnh đó, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành xác minh thông tin liên quan đến số thuê bao điện thoại “0974.178.xxx” được sử dụng để mở tài khoản ngân hàng trên nhưng hiện tại chưa có kết quả nên đang tiếp tục điều tra làm rõ.
-
Đối với Nguyễn Hồng P1 - Sinh năm 1993, trú tại: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, là người đứng tên chủ tài khoản số 1018051181 thuộc ngân hàng V. Quá trình điều tra, Công an xã C xác nhận không có người nào có thông tin cá nhân như trên sinh sống tại địa phương. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành xác minh thông tin liên quan đến số thuê bao điện thoại “0347.849.xxx” được sử dụng để mở tài khoản ngân hàng nhưng hiện tại chưa có kết quả trả lời và đang tiếp tục điều tra làm rõ.
-
Đối với Phạm Văn K - Sinh năm 2003, trú tại: Xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, đứng tên chủ tài khoản số 19035813550015 thuộc ngân hàng T9 được sử dụng để nhận 450.000.000 đồng do tài khoản Nguyễn Hồng P1 chuyển đến. Quá trình điều tra, K khai nhận là người đã mở tài khoản ngân hàng nói trên. Tuy nhiên, do không có nhu cầu sử dụng nên đã bán lại tài khoản (gồm thẻ ngân hàng, mật khẩu đăng nhập và thuê bao điện thoại sử dụng ứng dụng internet banking) cho một người không quen biết với số tiền 500.000 đồng. Bên cạnh đó, K cũng không hề biết người này mua tài khoản ngân hàng với mục đích để làm gì nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với K. Tuy nhiên, hành vi bán tài khoản ngân hàng của K đã vi phạm vào điểm c khoản 5 Điều 28 Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Sau khi kết thúc điều tra, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q sẽ chuyển tài liệu có liên quan đến Công an huyện N để xử lý hành chính đối với K theo đúng quy định của pháp luật.
-
Đối với Trần Văn H4 - Sinh năm 1996, trú tại: Xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, đứng tên chủ tài khoản số 1016973530 thuộc ngân hàng V được sử dụng để nhận số tiền 45.600.000 đồng. Quá trình điều tra, H4 khai nhận là người đã mở tài khoản ngân hàng nói trên. Tuy nhiên, do không có nhu cầu sử dụng nên đã bán lại tài khoản (gồm thẻ ngân hàng, mật khẩu đăng nhập và thuê bao điện thoại sử dụng ứng dụng Internet banking) cho một người không quen biết với số tiền 300.000 đồng. Bên cạnh đó, H4 cũng không hề biết người này mua tài khoản ngân hàng với mục đích để làm gì nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với H4. Tuy nhiên, hành vi bán tài khoản ngân hàng của H4 đã vi phạm vào điểm c khoản 5 Điều 28 Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Sau khi kết thúc điều tra, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q sẽ chuyển tài liệu có liên quan đến Công an huyện H để xử lý hành chính đối với H4 theo đúng quy định của pháp luật.
-
Đối với Hoàng Văn L2 - Sinh năm 1982, trú tại: Xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, là người đứng tên chủ tài khoản số 2222226021982 thuộc ngân hàng M và tài khoản số 1023557705 thuộc ngân hàng V. Quá trình điều tra, Công an thị xã Đ xác nhận không có người nào có thông tin cá nhân như trên sinh sống tại địa phương. Bên cạnh đó, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành xác minh qua thông tin liên quan đến số thuê bao điện thoại “0337.215.xxx” được sử dụng để mở tài khoản ngân hàng nhưng hiện tại chưa có kết quả trả lời nên đang tiếp tục điều tra làm rõ.
-
Đối với Đặng Văn C - Sinh năm 1991, trú tại: Khu phố A, Phường C, thị xã Q, là người đã mua tiền Game W88 của Đỗ Văn T1 để sử dụng vào mục đích chơi Game đổi thưởng và quá trình mua tiền Game W88 từ Tứ thì C không hề biết số tiền G này do sử dụng tiền chiếm đoạt của người khác để mua. Hành vi của C có dấu hiệu của tội phạm “Đánh bạc”. Tuy nhiên, hiện tại không thể xác định được tài khoản G mà C đã sử dụng để mua tiền G, cũng như lịch sử giao dịch mua tiền Game. Vì vậy, chưa đủ cơ sở để xem xét, xử lý đối với hành vi “Đánh bạc” của Đặng Văn C. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đang tiếp tục xác minh, làm rõ với hành vi “Đánh bạc” của C khi có đủ cơ sở sẽ xử lý, giải quyết theo quy định.
-
Đối với chủ tài khoản Telegram C3 đã cung cấp tài khoản số 9850188686666 thuộc ngân hàng M mang tên Phan Huy H3 cho Hồ Minh Q. Do không xác định được thông tin liên quan đến tài khoản này nên cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q sẽ tiếp tục mở rộng điều tra khi phát hiện có thêm các tài liệu chứng cứ mới sẽ xử lý, giải quyết theo quy định.
-
Đối với Nguyễn Trí N1 - Sinh năm 1993, là chủ quán I ở Khu phố D, Phường C, thị xã Q, không biết việc Phan Hồng S, Hồ Ngọc L và Đỗ Văn T1 đến sử dụng địa điểm và máy vi tính của mình để thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo: Phan Hồng S, Hồ Ngọc L, Đỗ Văn T1, Hồ Minh Q phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
-
Về hình phạt:
-
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; ; Điều 65; Điều 91 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Hồng S 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Hồng S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp các bị cáo Phan Hồng S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
-
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 65; Điều 91 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Ngọc L 32 (Ba mươi hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hồ Ngọc L cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp các bị cáo Hồ Ngọc L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
-
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 65; Điều 91 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn T1 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp các bị cáo Đỗ Văn T1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
-
Căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 54; Điều 56, Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Minh Q 08 (T8) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù về tội "Rửa tiền" tại Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xử phạt bị cáo Hồ Minh Q 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giam từ 20/7/2023 đến ngày 16/12/2023.
-
-
Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 586, 587 Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo Phan Hồng S, Hồ Ngọc L, Đỗ Văn T1, Hồ Minh Q có trách nhiệm liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N, trách nhiệm bồi thường được xác định như sau:
- - Bị cáo Phan Hồng S phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N tổng số tiền 184.700.000 đồng. Trong đó, bồi thường cho chị H2 168.500.000 đồng và bồi thường cho chị N 16.200.000 đồng, được trừ đi số tiền đã giao nộp là 50.000.000 đồng đang lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q (Theo biên bản giao nhận tài sản số 11.29/2023/BBBG-KBTX ngày 29/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q và Kho bạc Nhà nước thị xã Q, mã tài sản là 156000008926A), số tiền còn lại phải bồi thường là 134.700.000 đồng.
- - Bị cáo Hồ Ngọc L phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N tổng số tiền 41.100.000 đồng. Trong đó, bồi thường cho chị H2 20.100.000 đồng và bồi thường cho chị N 21.000.000 đồng, được trừ đi số tiền đã giao nộp là 15.000.000 đồng đang lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q (Theo biên bản giao nhận tài sản số 10.1/2023/BBBG-KBTX ngày 29/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q và Kho bạc Nhà nước thị xã Q, mã tài sản là 156000008918A), số tiền còn lại phải bồi thường là 26.100.000 đồng.
- - Bị cáo Đỗ Văn T1 phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N tổng số tiền 48.000.000 đồng. Trong đó, bồi thường cho chị H2 32.000.000 đồng và bồi thường cho chị N 16.000.000 đồng, được trừ đi số tiền đã giao nộp là 30.000.000 đồng đang lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q (Theo biên bản giao nhận tài sản số 11.20/2023/BBBG-KBTX ngày 20/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q và Kho bạc Nhà nước thị xã Q, mã tài sản là 156000008921A), số tiền còn lại phải bồi thường là 18.000.000 đồng.
- - Bị cáo Hồ Minh Q phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H2 và chị Trương Thị N tổng số tiền 52.800.000 đồng. Trong đó, bồi thường cho chị H2 30.000.000 đồng và bồi thường cho chị N 22.800.000 đồng, được trừ đi số tiền đã giao nộp là 15.000.000 đồng đang lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q (Theo biên bản giao nhận tài sản số 11.20/2023/BBBG-KBTX ngày 20/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q và Kho bạc Nhà nước thị xã Q, mã tài sản là 156000008922A) và tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị (theo biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/2023, số: 0000054 ngày 16/7/2024, số tiền 10.000.000 đồng), số tiền còn lại phải bồi thường là 37.800.000 đồng.
Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
-
Về án phí:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc:
- - Bị cáo Phan Hồng S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.735.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bị cáo Hồ Ngọc L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.305.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bị cáo Đỗ Văn T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bị cáo Hồ Minh Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.890.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Lê Phương Thảo |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Hồng Sơn, Hồ Ngọc Lễ, Đỗ Văn Tứ, Hồ Minh Quân “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 290 của Bộ luật Hình sự
