|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HS-ST
Ngày 17 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Minh và ông Nguyễn Văn Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thuần Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 17/5/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 12/4/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 04/5/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Khắc T, (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 24/7/1992, tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Khắc T1, sinh năm 1970 và bà Đinh Thị T2, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an H; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Lê Hồng L; sinh năm 1991; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
+ Ông Lê Khắc T1, sinh năm 1970; bà Đinh Thị T2, sinh năm 1970; đều nghề nghiệp: Làm ruộng; đều có địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/01/2024, Tổ công tác Công an huyện H phối hợp Công an Thị trấn H tổ chức tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn Thị trấn H. Đến khoảng 10 giờ 35 phút cùng ngày, khi đến khu vực đập B thuộc địa phận tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H thì phát hiện Lê Hồng L, sinh năm 1991, trú tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Lê Hồng L thừa nhận bản thân vừa mới sử dụng ma túy xong, nguồn gốc ma túy là L mua của Lê Khắc T vào buổi sáng cùng ngày. Lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ 01 chiếc điện thoại di động của Lê Hồng L.
Căn cứ vào lời khai của Lê Hồng L, 11 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Khắc T và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Khắc T tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lê Khắc T giao nộp 01 túi ni lông màu xanh, kích thước 6,5x9 cm, bên trong có chứa 120 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh; 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu trắng cùng 04 thẻ nạp điện thoại Viettel mỗi thẻ mệnh giá 50.000đ (đều đã qua sử dụng). Quá trình khám xét khẩn cấp thu giữ được 02 ống kim loại màu bạc, mỗi ống dài 12,5cm, Lê Khắc T trình bày đó là dụng cụ sử dụng ma túy của T.
Kết quả điều tra xác định được do trước đây Lê Khắc t có chạy xe tải chở hàng từ Việt Nam sang Lào. Ngày 06/01/2024 thì T xuất cảnh qua cửa khẩu N, tỉnh Quảng Nam sang Lào để tìm việc làm. Khoàng 20 giờ cùng ngày, trong lúc đang ở thị trấn D, huyện D, tỉnh Sekong thì T có gặp một người đàn ông người Lào, người này hỏi T có mua ma túy hồng phiến không, T đồng ý rồi đưa cho người đó 2.500.000đ, người đàn ông đó đưa lại cho T 01 túi ni lông màu xanh, bên trong chứa nhiều viên ma túy hồng phiến. Đến sáng ngày 07/01/2024, T bắt xe khách xuất cảnh ra khỏi Lào qua cửa khẩu D, sau đó nhập cảnh vào Việt Nam qua cửa khẩu N. Để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện khi qua các cửa khẩu thì T cất gói ni lông màu xanh chứa ma túy ở túi quần trong của mình. Khi về đến nhà, T mở gói ni lông màu xanh ra đếm thì thấy bên trong có 150 viên ma túy hồng phiến và 02 viên nén màu xanh. T cất gói ni lông chứa ma túy xuống dưới gầm giường ngủ, khi nào có nhu cầu thì lấy ra sử dụng hoặc có người nào mua thì sẽ bán kiếm lời. Từ ngày 07/01/2024 đến ngày 11/01/2024, T sử dụng hết 28 viên ma túy hồng phiến. Đến khoảng 10 giờ ngày 11/01/2024, khi T đang ở nhà thì Lê Hồng L sử dụng số điện thoại 0929.975.xxx gọi điện vào số 0325200145 của T hỏi mua 02 viên ma túy hồng phiến, T đồng ý bán với giá 200.000đ và yêu cầu L mua 04 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá mỗi thẻ 50.000đ để thanh toán. Sau đó T gói 02 viên ma túy hồng phiến vào một túi ni lông rồi để tại cột điện trước cửa nhà T. Khi L đến nhà đưa 04 thẻ điện thoại cho T thì T chỉ vị trí cất giấu ma túy cho L. Sau khi bán xong, T đi về nhà và nộp số thẻ điện thoại trên vào tài khoản chơi game trên mạng của T. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng chức năng đến bắt và khám xét khẩn cấp chỗ ở của T. T tự nguyện giao nộp 120 viên hồng phiến và 02 viên nén màu xanh cùng 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu trắng, 04 thẻ nạp điện thoại Viettel mỗi thẻ mệnh giá 50.000đ, lực lượng chức năng khám xét khẩn cấp phát hiện thu giữ 02 ống kim loại màu bạc, mỗi ống dài 12,5cm, là dụng cụ sử dụng ma túy của T.
Kết luận giám định số 202/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Các viên nén màu hồng gửi tới giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 11,8644 gam. Các viên nén màu xanh gửi tới giám định không phải là ma túy, có khối lượng 0,1935 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vật chứng, tài sản thu giữ, xử lý: Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã thu giữ của Lê Khắc T: 01 tui ni lông màu xanh, kích thước 6,5x9 cm, bên trong chứa 11,8644 gam ma túy Methamphetamine và 0,1935 gam viên nén màu xanh; 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu trắng, số Imei 357263090704795, lắp sim điện thoại số [...]; 04 thẻ nạp điện thoại của nhà mạng V, mệnh giá 50.000đ (đã cào nạp sử dụng); 01 ống kim loại màu bạc, mỗi ống dài 12,5cm. Thu giữ của Lê Hồng L 01 điện thoại di động Nokia 1202, màu xanh, số Imei 352017/04/251299/4, lắp sim điện thoại số 0929.975.xxx. Các vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê bảo quản chờ xử lý.
Tại cáo trạng số 16/CT-VKS-HK ngày 09/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê truy tố Lê Khắc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Khắc T đã khai nhận về hành vi của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được sai phạm và xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Khắc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 đến 09 năm tù; đề nghị tịch thu sung công 200.000đ của bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ và tài sản không có giá trị; tịch thu sung nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS Max của Lê Khắc T và 01 điện thoại di động Nokia 1202 của Lê Hồng L; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sư sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Khắc T tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ ngày 06/01/2024, tại thị trấn D, huyện D, tỉnh Sekong, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Lê Khắc T mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nilong chứa 150 viên ma túy hồng phiến và 02 viên nén màu xanh với giá 2.500.000đ. Đến sáng ngày 07/01/2024, T đưa gói ma túy hồng phiến trên xuất cảnh ra khỏi Lào qua cửa khẩu D, sau đó nhập cảnh vào Việt Nam qua cửa khẩu N, tỉnh Quảng Nam rồi về cất dấu tại chỗ ở của mình ở thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để sử dụng và bán kiếm lời. Từ ngày 07/01/2024 đến ngày 11/01/2024, T sử dụng hết 28 viên ma túy hồng phiến. Khoảng 10 giờ ngày 11/01/2024, Lê Khắc T bán 02 viên ma túy hồng phiến cho Lê Hồng L với giá 200.000đ. Đến 11 giờ 50 phút cùng ngày, T đã tự nguyện giao nộp 120 viên ma túy hồng phiến loại Methamphetamine, có khối lượng 11,8644 gam cho Cơ quan CSĐT Công an huyện H khi thực hiện lệnh khám xét và giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
[3] Bị cáo có hành vi bán 02 viên ma túy hồng phiến, loại Methamphetamine với giá 200.000đ cho Lê Hồng L vào sáng ngày 11/01/2024 và tàng trữ trái phép 11,8644 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Nguồn gốc số ma túy bị cáo bán cho Lê Hồng L và số ma túy tàng trữ trái phép trên là do bị cáo mua ở thị trấn D, tỉnh Sekong, nước Lào, sau đó nhập cảnh qua cửa khẩu G, tỉnh Quảng Nam đưa về Việt Nam cất giấu vừa sử dụng và bán lại kiếm lời. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc mua bán ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện việc mua bán ma túy để kiếm lời, nên thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Qua biên giới” và “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm g, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, phạm tội rất nghiêm trọng, do đó cần phải xét xử nghiêm và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới bảo đảm tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh truy tố, điều luật áp dụng, mức hình phạt, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng một số hình phạt bổ sung. Xét thấy bị cáo mua bán trái phép chất ma túy vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 200.000đ bị cáo bán ma túy cho Lê Hồng L (thanh toán bằng 04 thẻ cào mạng V mệnh giá 50.000đ, bị cáo đã nộp vào mạng chơi điện tử), đây là tiền bị cáo hưởng lợi do bán mua túy, do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Đối với 11,5684 gam ma túy Methamphetamine (còn lại sau giám định) là chất cấm tàng trữ lưu hành; 0,0959 gam viên nén màu xanh (không phải là ma túy), 04 thẻ cào mạng Viettel mệnh giá 50.000đ (đã qua sử dụng), 02 ống kim loại màu bạc dài 12,5cm là những vật không có giá trị, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone XS Max màu trắng, số Imei 357263090704795, lắp sim điện thoại số 0325.200.xxx của bị cáo Lê Khắc T là công cụ, phương tiện phạm tội và 01 điện thoại di động Nokia 1202, màu xanh, số Imei 352017/04/251299/4, lắp sim điện thoại số 0929.975.xxx của Lê Hồng L đã liên lạc mua ma túy sử dụng, là những tài sản còn giá trị, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện có thu giữ của bị cáo Lê Khắc T 01 cuốn hộ chiếu số P00673625; 01 căn cước công dân số [...]; 01 giấy phép lái xe số [...], hạng C; 01 giấy phép lái xe số [...], hạng FC, đều mang tên Lê Khắc T (B1 12). Ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho bà Đinh Thị T2 là mẹ của bị cáo (Bl 120), không ai có ý kiến khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Liên quan đến vụ án, đối với người đàn ông bị cáo khai bán ma túy cho bị cáo tại Lào, bị cáo không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. Đối với Lê Hồng L có hành vi sử dụng 02 viên ma túy hồng phiến mua của bị cáo, ngày 17/01/2024 Công an huyện H đã xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ (đã nộp phạt); đối với ông Lê Khắc T1 và bà Đinh Thị T2 không biết việc bị cáo cất dấu ma túy ở nhà và không biết việc bị cáo mua bán trái phép chất ma túy, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện không điều tra xử lý là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g, điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Khắc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lê Khắc T 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2024. Phạt tiền bổ sung bị cáo 5.000.000đ.
- Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Lê Khắc T 200.000đ.
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư được niêm phong bên trong có 01 túi ni lông chứa 11,5684 gam ma túy Methamphetamine và 01 túi ni lông chứa 0,0959 gam viên nén màu xanh; 04 thẻ cào mạng V mệnh giá 50.000đ (đã qua sử dụng); 01 phong bì thư được niêm phong bên trong có 02 ống kim loại màu bạc dài 12,5cm.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu trắng, số Imei 357263090704795, lắp sim điện thoại số 0325.200.xxx và 01 điện thoại di động Nokia 1202, màu xanh, số Imei 352017/04/251299/4, lắp sim điện thoại số 0929.975.xxx.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Khắc Trung MBTPCMT
