Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày 11 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình Như.
Ông Hà Mạnh Nô.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hậu - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 30/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với.

- Bị cáo: Hoàng Quang Chiều; sinh năm 1981; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Dùn N; sinh năm 1958 (đã chết) và con bà: Hoàng Mùi Viện; sinh năm 1958; có 07 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ: Hoàng Thị M; sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền sự: Ngày 09/4/2024 bị Chủ tịch UBND xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng bằng hình thức phạt tiền; tiền án: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 29/4/2021, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C4; tạm giữ: Không; bắt tạm giam: Ngày 06/6/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vương Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang: Ông Ma Văn K - Chủ tịch UBND xã (Có mặt).

- Người làm chứng: Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1982; bà Hoàng Thị M, sinh năm 1978; ông Phùng Cần H1, sinh năm 1989 (có mặt). Ông Hoàng Cần T, sinh năm 1988; bà Hoàng Mùi S, sinh năm 1977; ông Lý Văn C, sinh năm 1989; bà Hoàng Thị C1, sinh năm 1992; ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 14/4/2024, Hoàng Quang C2 đi từ nhà đến nhà bà Hoàng Mùi S (người cùng thôn) ăn cơm uống rượu, trong mâm cơm gồm: bà S (chủ nhà), ông Hoàng Cần D, ông Triệu Quầy S1, ông Bàn Cần P. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày mọi người uống hết khoảng 02 lít rượu thì nghỉ. Sau đó Chiều mời D, S1, P đến nhà C2 uống rượu tiếp, khi đến nhà Chiều lấy 01 chai rượu loại 0,5 lít rồi cùng 03 người trên uống đến khoảng 13 giờ 30 phút thì hết rượu nên mọi người ra về. Lúc này Chiều trong tình trạng say rượu và định đi ra khỏi nhà bà Hoàng Thị M (là vợ Chiều) can ngăn không cho C2 đi, sau đó hai người giằng co to tiếng chửi nhau, do bực tức trước thái độ chửi bới của C2, bà M dùng tay tát vào miệng Chiều 03 phát, thấy vậy Chiều xô đẩy bà M ngồi xuống giường sau đó Chiều đi đến UBND xã Đ, mục đích trình báo về việc bị vợ bà Hoàng Thị M đánh, do trước đó C2 đã có hành vi gây rối trật tự công cộng tại UBND xã và sợ Chiều tiếp tục có hành vi gây rối nên bà M túm quần giữ lại, C2 liền cởi quần sóoc lửng ra chỉ mặc quần lót (quần sịp) cởi trần chạy từ nhà vào cổng UBND xã Đ.

Khi đi vào cổng UBND xã Đ khoảng 14 giờ 00 phút, Chiều la hét to tiếng chửi bới rồi tiến đến trước cửa phòng làm việc Công an xã Đ tiếp tục la hét, đồng thời tiến đến vị trí chiếc xe mô tô BKS: 23B1-003.74 dựng trước cửa phòng làm việc Công an xã, rồi dùng tay phải cầm mũ bảo hiểm trên yên xe máy ném vào cửa phòng làm việc Công an xã Đ làm vỡ 01 ô cửa kính rơi xuống nền. Tiếp đó Chiều đến vị trí chiếc xe mô tô thứ hai BKS: 23B1- 005.52, đỗ song song với xe mô tô thứ nhất dựng trước cửa phòng làm việc Công an xã, dùng tay phải cầm mũ bảo hiểm để trên yên xe máy ném về phía cửa phòng làm việc Công an xã Đ, làm vỡ thêm 01 ô kính rơi xuống nền và tiếp tục to tiếng la hét chửi bới gây mất trật tự tại UBND xã, Chiều đi sang trụ sở UBND xã Đ gây rối, Hoàng Thị M (vợ bị cáo) cùng bà Hoàng Thị M (chị gái bị cáo) đuổi theo để can ngăn đưa C2 đi về nhưng Chiều không nghe tiếp tục to tiếng la hét, quát tháo, chửi bới gây mất trật tự tại trụ sở UBND xã Đ.

Sau khi nghe thấy tiếng la hét quát tháo, chửi bới của Chiều, ông Mai Thế C3 - Phó chủ tịch UBND xã Đ đang làm việc tại phòng của mình cùng với ông Nguyễn Ngọc H2 - Trưởng Công an xã Đ đi ra can ngăn và giải thích, yêu cầu Chiều dừng ngay việc gây rối trật tự tại trụ sở UBND xã. Tuy nhiên Chiều không chấp hành mà tiếp tục la hét chửi bới, quát tháo trong thời gian từ khoảng 14h đến 15h. Trước thái độ không chấp hành của Chiều, ông C3 và ông H2 gọi điện thoại huy động ông Hoàng Cần T - Chỉ huy trưởng quân sự xã với ông Phùng Cần H1 - Công an viên đến hỗ trợ giải quyết, nhưng Chiều vẫn tiếp tục la hét, chửi bới và tiến vào phòng làm việc Công an xã tiếp tục chửi bới và xô đẩy bàn ghế đến 15 giờ cùng ngày Công an xã Đ phối hợp các lực lượng chức năng tiến hành khống chế ngăn chặn hành vi của Chiều và báo cáo lên Công an huyện B giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra Chiều khai nhận trước đó ngày 27/02/2024 trong tình trạng say rượu Chiều đã có hành vi chửi bới gây mất trật tự trong khuôn viên UBND xã Đ, bị Chủ tịch UBND xã Đ xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 36/QĐ-XPVPHC ngày 09/4/2024 đối với Hoàng Quang C2 về hành vi: Gây rối trật tự công cộng số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 14/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã phối hợp với các ngành chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường: Phát hiện tại cánh cửa phòng làm việc của Công an xã bị vỡ 02 ô cửa kính, những mảnh kính rơi trước cửa phòng làm việc Công an xã kích thước khác nhau và 02 mũ bảo hiểm màu xanh bị trày xước rơi tại hiện trường. Khám nghiệm bên trong phòng làm việc của Công an xã Đ phát hiện bàn ghế ngồi uống nước bị xô đẩy ra khỏi vị trí ban đầu.

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện B thu giữ 01 sổ điều trị bệnh mãn tính do Sở y tế tỉnh H cấp năm 2016.

Ngày 23/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 109/QĐ-CSĐT, trưng cầu: Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc tiến hành giám định tâm thần đối với Hoàng Quang C2.

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 69/KLGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận: Hoàng Quang Chiều bị bệnh: Động kinh không có rối loạn tâm thần. Tại thời điểm thực hiện hành vi Gây rối trật tự công cộng, ngày 27/02/2024 và ngày 14/4/2024, Hoàng Quang C2 không bị bệnh tâm thần. Hoàng Quang C2 đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Hoàng Quang C2 không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Biên bản làm việc ngày 23/5/2024 tại UBND xã Đ xác định ngày 14/4/2024 Lãnh đạo, cán bộ vẫn làm việc theo Quyết định số 33/QĐ-UBND ngày 04/4/2024 của Chủ tịch UBND xã Đ, huyện B về hướng dẫn công dân đến địa bàn xã để kích hoạt định danh điện tử. Tại thời điểm xảy ra vụ việc ông Mai Thế C3, chức vụ Phó chủ tịch xã đang làm việc, bộ phận Văn phòng một cửa UBND xã có 02 người đang làm việc, phòng làm việc Công an xã Đ có 02 người, ngoài ra còn nhiều người dân đứng xem, việc Hoàng Quang C2 đến trụ sở UBND xã Đ có hành vi la hét chửi bới đập phá cửa phòng Công an xã Đ đã ảnh hưởng đến việc hoạt động bình thường của đơn vị, gây mất trự trị an tại địa phương.

Ngày 28/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã phối hợp với các ngành chức năng, chính quyền địa phương đã tiến hành đưa Hoàng Quang C2 và những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tiến hành xác định hiện trường các vị trí Chiều thực hiện hành vi đập phá la hét chửi bới trong trụ sở UBND xã Đ. Kết quả Chiều đã chỉ dẫn hoàn toàn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường.

Ngày 25/6/20234, Cơ quan CSĐT Công an huyện B yêu cầu định giá tài sản số 284/YC-CQĐT, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện B, định giá 02 (hai) mảnh kính hình chữ nhật màu trắng, mỗi mảnh có kích thước dài 30cm x rộng 20cm x dày 0,3cm và 02 (hai) mũ bảo hiểm màu xanh, phía trước và sau mũ có ghi dòng chữ “HCKT” màu vàng, trên dòng chữ có hình ngôi sao năm cánh màu vàng, mũ có nhiều vết xước mới được thu tại hiện trường.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTTHS, ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận:

  • 02 (hai) mảnh kính hình chữ nhật màu trắng, mỗi mảnh có kích thước dài: 30cm; rộng: 20cm; dày: 0,3cm. Mức độ thiệt hại là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).
  • 02 (hai) mũ bảo hiểm màu xanh, phía trước và sau mũ có ghi dòng chữ “HCKT” màu vàng, trên dòng chữ có hình ngôi sao năm cánh màu vàng, trên mũ có nhiều vết trày xước (vết mới). Mức độ thiệt hại là: 0đ (không đồng). Tổng giá trị thiệt hại là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Vật chứng vụ án thu giữ

  • 02 (Hai) mũ bảo hiểm màu xanh, phía trước và sau mũ có ghi dòng chữ “HCKT” màu vàng, trên dòng chữ “HCKT” có hình ngôi sao 5 cánh màu vàng, trên mũ có nhiều vết trày xước mới.
  • 01 hộp giấy bên trong đựng các mảnh thuỷ tinh vỡ không rõ hình dạng; mảnh to nhất có kích thước dài 20 cm x rộng 17,5 cm x dày 3 mm; mảnh bé nhất có kích thước dài 7 cm x rộng 2,5 cm x dày 3 mm.

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xét thấy một số vật chứng đã được chứng minh, làm rõ chủ sở hữu hợp pháp và xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; ngày 06/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chủ sở hữu UBND xã Đ 02 mũ bảo hiểm màu xanh.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Hoàng Quang C2 đã tác động gia đình khắc phục sửa chữa lắp lại 02 ô kính cửa cho UBND xã Đ, tại phiên tòa UBND xã Đ không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSBM ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố Hoàng Quang C2 về tội Gây rối trật tự công cộng, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Quang C2 phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
  • Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Hoàng Quang C2 từ 26 tháng tù đến 30 tháng tù.
  • Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Quang Chiều đã khắc phục sửa chữa lắp lại 02 ô kính xong UBND xã Đ không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy bên trong đựng các mảnh thuỷ tinh vỡ không rõ hình dạng.
  • Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa bị cáo Hoàng Quang C2: Nhất trí về tội danh Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, rất hối hận đã tác động gia đình khắc phục sửa chữa lắp lại 02 ô kính tại trụ sở UBND xã, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật hạn chế. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra kết luận của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận Hoàng Quang C2 bị bệnh động kinh không rối loạn tâm thần, thời điểm xảy ra hành vi phạm tội bị cáo đã uống rượu say, cộng với tình trạng bệnh động kinh phần nào ảnh hưởng tới tinh thần, nhất thời không kiểm soát được hành vi của mình, do đó mới dẫn tới hành vi gây rối trật tự công cộng. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, do đó “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự”.

Đề nghị Hội đồng xét xử về tội danh: Tuyên bố Hoàng Quang C2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt Hoàng Quang C2 từ 12 đến 18 tháng tù. Về phần dân sự: Không. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo Hoàng Quang C2.

Bị cáo Hoàng Quang C2 nhất trí với ý kiến của người bào chữa không bổ sung thêm gì và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Kiểm sát viên đối đáp không nhất trí quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý về áp dụng khoản 1, điều 54 để xử dưới khung hình phạt cho bị cáo với lý do bị cáo C2 đã bị Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng tại trụ sở UBND xã Đ, bị cáo không lấy đó làm bài học làm gương mà lại tiếp tục thực hiện hành vi Gây rối trật tự công cộng, do vậy Kiểm sát viên bảo lưu quan điểm của mình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhất trí quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không có tranh luận gì.

Bị cáo thực hiện lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Quang C2 có đơn xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa; người làm chứng ông Hoàng Cần T, bà Hoàng Mùi S, ông Lý Văn C, bà Hoàng Thị C1, ông Nguyễn Văn T1. Xét thấy bị cáo, Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có lời khai, việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 291, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo; trợ giúp viên pháp lý; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng thời gian từ 14 giờ 00 phút đến 15 giờ 00 phút ngày 14/4/2024, Hoàng Quang C2 đã có hành vi gây rối trật tự công cộng bằng các hành động chửi bới, la hét, dùng mũ bảo hiểm đập phá tài sản của UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang đã gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến hoạt động của UBND xã Đ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Điều 318 Bộ luật Hình sự

  1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
    • ...b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo đến trụ sở UBND xã Đ thấy đông người các phòng đang làm việc bình thường, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi Gây rối trật tự công cộng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi la hét to tiếng chửi bới nơi trụ sở UBND xã có đông người đang làm việc sau đó dùng mũ bảo hiểm đập phá cửa phòng làm việc Công an xã làm vỡ 02 ô cửa kính rơi xuống nền là trái quy định của pháp luật, nhưng vẫn cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự chung nơi công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, đến hoạt động bình thường ở nơi công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Nên cần xử lý bằng chế tài Luật hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu ngày 09/4/2024 Chủ tịch UBND xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng đến ngày 25/6/2024 đã nộp phạt xong đáng lẽ ra lấy đó làm bài học sửa chữa sai lầm khuyết điểm cho bản thân, những bị cáo không làm như vậy mà thể hiện tính coi thường pháp luật. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tự nguyên bồi thường toàn bộ thiệt hại cho UBND xã Đ, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế; ngoài ra bị bệnh động kinh đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

  • Bị cáo Hoàng Quang C2 đang áp dụng biện pháp tạm giam, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Quang C2 đã khắc phục sửa chữa lắp lại 02 ô kính xong; đại diện UBND xã Đ không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • [7.1] Đối với 02 mũ bảo hiểm màu xanh, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã xác định chủ sử hữu và ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho UBND xã Đ là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • [7.2] Đối với 01 hộp giấy bên trong đựng các mảnh thuỷ tinh vỡ không rõ hình dạng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Trong vụ án có một số đối tượng liên quan: Đối với việc bà Hoàng Thị M (là vợ bị cáo) do bực tức trước thái độ của Hoàng Quang C2 nên đã dùng tay tát vào miệng của Chiều 03 phát không có thương tích, do Chiều không yêu cầu xử lý và không yêu cầu bồi thường nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Từ những căn cứ trên đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là có căn cứ được chấp nhận.

[10] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Hoàng Quang C2 đề nghị xử phạt từ 12 đến 18 tháng tù không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc răn đe, đấu tranh tội phạm phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo Hoàng Quang C2 là người dân tộc thiểu số và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ tiền án phí cho bị cáo.

[12] Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Quang C2 phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
  2. Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Quang C2 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/6/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp giấy bên trong đựng các mảnh thuỷ tinh vỡ không rõ hình dạng; mảnh to nhất có kích thước dài 20cm x rộng 17,5cm x dày 3 mm; mảnh bé nhất có kích thước dài 07cm x rộng 2,5cm x dày 3mm.

    (Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).

  5. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Hoàng Quang C2 được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Mê;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; Trợ giúp viên pháp lý;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Dương Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về hình sự (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Hoàng Quang C 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/6/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger