|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 09 – 7 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thừa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Quang Sô
2. Bà Lê Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã L; Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hà Vũ K, sinh năm 1990; tên gọi khác: không; nơi đăng ký thường trú: ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: nông dân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T (đã chết) và bà Trương Thị Q (còn sống); có vợ (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 20/4/2021 Hà Vũ K bị Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, đến ngày 31/8/2022 chấp hành xong quyết định; nhân thân: Ngày 08/12/2020, Hà Vũ K bị Chủ tịch UBND xã L ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng, đến ngày 09/3/2021 chấp hành xong quyết định; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/02/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
2. Trương Công H, sinh năm 1995; tên gọi khác: không; nơi đăng ký thường trú: ấp T, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: nông dân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn K1 (còn sống) và bà Lê Bé T1 (còn sống); bị cáo chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/02/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
3. Nguyễn Đình T2, sinh năm 1999; tên gọi khác: không; nơi cư trú: ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: nông dân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B (còn sống) và bà Tạ Thị H1 (còn sống); bị cáo chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/02/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Mỹ X, sinh năm 1980; cư trú tại: ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 29/11/2023, Nguyễn Đình T2 và Trương Công H sau khi nhậu xong, T2 có nhắn tin qua mạng xã hội Zalo cho Hà Vũ K nội dung “em với H xuống anh lấy cây đồ về chơi” (K hiểu tiếng lóng là lấy ma túy đá). K thấy tin nhắn của T2 nhưng không trả lời, T2 tiếp tục gọi Z cho K nói “em chạy xuống dưới anh nha” rồi tắt máy. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T2 rủ H đến nhà của K để sử dụng ma túy thì H đồng ý. Sau đó T2, H mỗi người điều khiển một xe mô tô chạy đến nhà của K, T2 chạy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter màu xanh đen biển kiểm soát 95B1-987.73 đi trước, H chạy xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Airblade màu xám biển kiểm soát 94F1-395.86 đi sau Thân khoảng 03 phút. Khi đến nhà của K, T2 đi vào gọi K ra gặp và nói anh em mình đi mua ma túy về chơi; T2 nói H đưa tiền trước, K không nói gì, khi đó H chạy xe đến đậu ngoài lộ, lúc này T2 và K từ trong nhà đi bộ ra ngoài lộ, T2 đi lại gần nói chuyện, thỏa thuận với H mỗi người hùn 250.000₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) để mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy đá về sử dụng; T2 không mang theo tiền nên Thân kêu H đưa trước số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) khi về nhà T2 sẽ trả lại thì H đồng ý. Khi T2 nói chuyện với H xong, K kêu H lấy xe mô tô Airlade của H đi mua ma túy đá và H đồng ý, còn xe Thân thì dẫn vào nhà của K cất giữ.
Thông qua các mối quan hệ xã hội, K biết ở khu vực cầu X thuộc xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang có người tên T3 khoảng 35 tuổi bán ma túy đá nên điều khiển xe chở T2 và H đi mua ma túy đá về sử dụng; trên đường đi H và T2 nói chuyện qua lại về số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), H nói với T2 là H ra tiền trước T2 nhớ trả lại, T2 đồng ý. Khi đến khu vực cầu X thì K dừng xe lại cho T2 và H xuống đợi, lúc này H lấy trong túi quần đang mặc của mình ra 01 tờ tiền có mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) đưa cho T2 và T2 lấy đưa cho K để mua ma túy đá. Sau đó K một mình chạy xe mô tô đi gặp người tên T3 nhưng không gặp T3 mà gặp một nam thanh niên khoảng 35 tuổi nên hỏi mua 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) ma túy đá thì người này đưa cho K 01 đoạn ống hút nhựa (đoạn tuýp nhựa) có chứa ma túy đá rồi K quay lại rước T2 và H. Cả 03 người chở nhau về nhà bỏ hoang của bà Hà Mỹ X (chị ruột của K) gần nhà của K để sử dụng ma túy đá.
Khi vào nhà, K tìm dụng cụ sử dụng ma túy đá được K làm sẵn trước đó cất giấu trong bao cũ, K lấy dụng cụ gắn thành bình sử dụng ma túy và lấy đoạn ống hút nhựa có chứa ma túy đá để ra ngoài còn H và T2 ngồi cạnh bên xem. Khi K gắn xong bình sử dụng ma túy đá, H lấy ½ (một phần hai) lưỡi dao lam cắt một đầu của đoạn ống hút nhựa có chứa ma túy đá đổ hết vào nòi (nỏ) rồi để đoạn ống hút nhựa tại vị trí sử dụng ma túy; tiếp đến K dùng 01 quẹt gas bị bể đầu gắn sẵn cây tiêm và lấy 01 quẹt gas màu xanh khác để đốt cây tiêm nấu ma túy đá tan chảy ra và hút trước 01 hơi, theo thứ tự K tiêm cho H hút 01 hơi, tiếp theo K tiêm cho T2 hút 01 hơi, hút qua hết một vòng ai hút thì tự tiêm; mỗi người hút được khoảng 03-04 hơi thì K, T2, H ngồi chơi game. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Công an xã L đến kiểm tra, thấy lực lượng Công an, K cầm bình sử dụng ma túy đá ném ra ngoài nên Công an xã L bắt giữ lập biên bản vi phạm quả tang, tạm giữ tang vật liên quan và mời tất cả về trụ sở làm việc.
Kết quả test nhanh xác định Hà Vũ K, Nguyễn Đình T2 và Trương Công H đều dương tính với chất ma túy đá (Methamphetamine).
Tại Bản Kết luận giám định số 1180/KL-KTHS ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Phòng K3 Công an tỉnh H kết luận: Hạt tinh thể còn dính trên đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Xác định hành vi của Hà Vũ K, Trương Công H, Nguyễn Đình T2 đủ yếu tố cấu thành tội phạm; ngày 03/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án hình sự và khởi tố các bị can về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại cáo trạng số 17/CT-VKS-HLM ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang truy tố các bị can Hà Vũ K, Trương Công H, Nguyễn Đình T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị tuyên bố các bị cáo Hà Vũ K, Trương Công H, Nguyễn Đình T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Đối với bị cáo Hà Vũ K: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Đối với bị cáo Trương Công H: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Đối với bị cáo Nguyễn Đình T2: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng, đề nghị xử lý theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng sử dụng vào việc phạm tội, trả lại cho các bị cáo các vật chứng không sử dụng vào mục đích phạm tội.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Mỹ X trình bày: Do bà thường xuyên đi làm ăn xa nên không có ở nhà, lúc các bị cáo vào nhà bà tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bà không hay biết. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án.
Ý kiến của các bị cáo tại phiên tòa: Các bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối cải và thành khẩn khai báo; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến 23 giờ ngày 29/11/2023, các bị cáo Nguyễn Đình T2, Trương Công H sau khi nhậu xong gọi điện thoại rủ bị cáo Hà Vũ K cùng nhau đi mua ma túy đá về sử dụng. Bị cáo T2 và bị cáo H góp tiền mỗi người 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo H có tiền nên trước 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) và thống nhất với bị cáo T2 sẽ trả lại cho bị cáo H 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng). Bị cáo K là người biết chỗ bán ma túy, sau khi nhận tiền từ bị cáo H đưa, bị cáo K điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Airblade biển kiểm soát 94F1-395.86 (xe của bị cáo H) chở bị cáo T2 và bị cáo H đi mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy đá về cùng nhau sử dụng. Bị cáo K là người biết địa điểm nhà của bà Hà Mỹ X thuộc ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang đang bỏ trống không ai ở; bị cáo K cũng đã từng sử dụng ma túy tại địa điểm này nên trong nhà đã có sẵn bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Bị cáo K lấy dụng cụ sử dụng ma túy đá ra, sau đó gắn thành bình, bị cáo H cắt đổ ma túy đá vào nòi để K nấu cho tan chảy rồi K hút trước 01 hơi, K tiêm cho H hút 01 hơi, K tiêm cho T2 hút 01 hơi, sau đó ai hút thì tự tiêm; mỗi người hút được 03-04 hơi thì bị lực lượng Công an xã L bắt giữ, lập biên bản vi phạm quả tang.
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên có cơ sở kết luận: Các bị cáo Hà Vũ K, Trương Công H, Nguyễn Đình T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, cần có hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, các bị cáo cùng nhau thống nhất đi mua ma tuý đá với mục đích về để sử dụng chung, trong quá trình diễn biến hành vi không có sự cấu kết chặt chẽ về vai trò của từng bị cáo nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Các bị cáo cùng thống nhất ý chí, bị cáo H và bị cáo T2 cùng góp tiền mỗi người 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo K là người trực tiếp liên hệ và thực hiện việc mua ma túy. Bị cáo K có vai trò nhất định trong việc chuẩn bị các điều kiện để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như: chở bị cáo H và bị cáo T2 đi mua ma tuý, bố trí, sắp xếp địa điểm, chuẩn bị phương tiện, dụng cụ để tổ chức thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo có sự tác động qua lại trong việc tổ chức cho nhau cùng sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu chung trách nhiệm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng là “Đối với 02 người trở lên”. Hành vi của bị cáo Hà Vũ K được xem là thực hiện vai trò chính trong vụ án nên phải chịu hình phạt cao hơn so với bị cáo T2 và bị cáo H là tương xứng và phù hợp với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội.
[3]. Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo H và bị cáo T2 có người thân là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo K được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo H và bị cáo T2 có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Riêng bị cáo K có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; có nhân thân không tốt: ngày 08/12/2020, Hà Vũ K bị Chủ tịch UBND xã L ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng, đến ngày 09/3/2021 chấp hành xong quyết định.
[4]. Xét thấy, ma túy là hiểm họa của xã hội bởi ma túy là nguyên nhân gây ra nhiều mối nguy hiểm đe dọa đến tính mạng, sức khỏe con người; làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức, lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội khác. Nhà nước đã có quy định nghiêm cấm mọi hành vi của các cá nhân, tổ chức trong việc sử dụng, mua bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Các bị cáo là người có đủ năng lực và tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng bất chấp pháp luật và cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, sau khi xem xét tính chất, mức độ phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với các bị cáo; xét thấy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo nhận thức được hành vi của mình mà có hướng khắc phục trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6]. Về vật chứng trong vụ án:
Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là những đồ vật liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy gồm:
- ½ lưỡi dao lam, đã qua sử dụng.
- 01 quẹt gas bị bể đầu bên trong có hai viên xúc xắc màu vàng - đỏ, đã qua sử dụng.
- 01 quẹt gas bị bể đầu bên trong có hai viên xúc xắc màu xanh - tím, đã qua sử dụng.
- 01 cây tiêm màu vàng trắng, đã qua sử dụng.
- 01 chai nhựa loại chai sting có nắp nhựa màu đỏ trên nắp có hai lỗ (trong đó 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đỏ dạng nếp gấp lò xo), đã qua sử dụng.
- 01 tuýp ống nhựa loại ống hút nhựa màu đỏ trắng, đã qua sử sụng.
- 01 tuýp ống nhựa loại ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử sụng.
- 01 vỏ bao gói được niêm phong có hình dấu tròn của Phòng K3 Công an tỉnh H và chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương L (người chứng kiến) và Lê Quốc K2 (người niêm phong).
- 01 đoạn ống thủy tinh màu trắng, đã qua sử dụng.
Trả lại cho các bị cáo vật chứng không sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội gồm:
- Trả cho bị cáo Hà Vũ K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16, đã qua sử dụng.
- Trả cho bị cáo Trương Công H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 94F1-395.86 nhãn hiệu Honda loại xe Airblade màu xám, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 529.000₫ (năm trăm hai mươi chín nghìn đồng).
- Trả cho bị cáo Nguyễn Đình T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93; 01 xe mô tô biển kiểm soát 95B1-987.73 nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter màu xanh đen, đã qua sử dụng.
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hà Vũ K, Trương Công H, Nguyễn Đình T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Về vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên T3 và người thanh niên bán ma túy cho Hà Vũ K ở khu vực cầu X thuộc xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được; hành vi của các đối tượng có dấu hiệu của tội phạm về ma túy. Do hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này và qua công tác điều tra, xác minh chưa có đủ căn cứ để xác định trách nhiệm có liên quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị đến các cơ quan tố tụng có thẩm quyền tiếp tục điều tra, xác minh xử lý theo quy định pháp luật để tránh bỏ lọt tội phạm.
Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Các bị cáo Hà Vũ K, Trương Công H, Nguyễn Đình T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hà Vũ K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 06/02/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trương Công H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 06/02/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 06/02/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tiếp tục tạm giam các bị cáo Hà Vũ K, Trương Công H, Nguyễn Đình T2 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:
- ½ lưỡi dao lam, đã qua sử dụng.
- 01 quẹt gas bị bể đầu bên trong có hai viên xúc xắc màu vàng - đỏ, đã qua sử dụng.
- 01 quẹt gas bị bể đầu bên trong có hai viên xúc xắc màu xanh - tím, đã qua sử dụng.
- 01 cây tiêm màu vàng trắng, đã qua sử dụng.
- 01 chai nhựa loại chai sting có nắp nhựa màu đỏ trên nắp có hai lỗ (trong đó 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đỏ dạng nếp gấp lò xo), đã qua sử dụng.
- 01 tuýp ống nhựa loại ống hút nhựa màu đỏ trắng, đã qua sử sụng.
- 01 tuýp ống nhựa loại ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử sụng.
- 01 vỏ bao gói được niêm phong có hình dấu tròn của Phòng K3 Công an tỉnh H và chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương L (người chứng kiến) và Lê Quốc K2 (người niêm phong).
- 01 đoạn ống thủy tinh màu trắng, đã qua sử dụng.
Trả lại cho các bị cáo gồm:
- Trả cho bị cáo Hà Vũ K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16, đã qua sử dụng.
- Trả cho bị cáo Trương Công H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 94F1-395.86 nhãn hiệu Honda loại xe Airblade màu xám, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 529.000đ (năm trăm hai mươi chín nghìn đồng).
- Trả cho bị cáo Nguyễn Đình T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93; 01 xe mô tô biển kiểm soát 95B1-987.73 nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter màu xanh đen, đã qua sử dụng.
Theo quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ-VKSLM-HS ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Số tiền 529.000₫ (năm trăm hai mươi chín nghìn đồng) hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện L, tỉnh Hậu Giang quản lý theo quy định.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Hà Vũ K, Trương Công H, Nguyễn Đình T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về vấn đề khác:
Kiến nghị đến các cơ quan tố tụng có thẩm quyền tiếp tục điều tra, xác minh xử lý hành vi của các đối tượng tên T3 và người thanh niên bán ma túy cho Hà Vũ K ở khu vực cầu X thuộc xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo quy định pháp luật để tránh bỏ lọt tội phạm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thừa |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân Lâm Quang Sô Lê Thị Mỹ L1 |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Thừa |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình phạt tù có thời hạn
