Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày 09 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Chánh

2/ Huỳnh Thế Cần – Nguyên Bí thư đoàn phường Thống Nhất.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Hoàng Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 724/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 756/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 1354/2023HSST-QĐ ngày 19/12/2023; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 1424/TB-TA ngày 28/12/2023 đối với các bị cáo:

1. Danh Nguyễn Thịnh A, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2008, tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp K, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh Thanh V, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 30-8-2023 đến ngày 08-9-2023, ngày 08/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà ban hành Quyết định huỷ bỏ tạm giữ số 12503/QĐ-VKSBH, hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo A: ông Danh Thanh V, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1990 (Là cha, mẹ của bị cáo A). (Ông V vắng mặt, bà L có mặt).

Địa chỉ thường trú: ấp Kosthum, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu

Địa chỉ: ấp Phú Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Người bào chữa cho bị cáo A: Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Minh T – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ.

Địa chỉ: Số B, đường C phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

2. Nguyễn Thành D, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2008, tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí P, sinh năm 1982 và bà Diệp Thị L1, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 30-8-2023 đến ngày 08-9-2023, ngày 08/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà ban hành Quyết định huỷ bỏ tạm giữ số 12504/QĐ-VKSBH, hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo D: Ông Nguyễn Chí P, sinh năm 1982 và bà Diệp Thị L1, sinh năm 1984 (Là cha, mẹ của bị cáo D). (Ông P vắng mặt, bà L1 có mặt)

Địa chỉ thường trú: ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

Địa chỉ liên lạc: ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo A:

  1. Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Minh T – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ.
  2. Địa chỉ: Địa chỉ: Số B, đường C phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

  3. Luật sư Trần Quốc T1 – Văn phòng Luật sư Quốc Tuấn P1 – Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.
  4. Địa chỉ: Số A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Diệp Thị L1, sinh năm 1984. (Có mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Minh D1, sinh năm 1994. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Danh Nguyễn Thịnh A và Nguyễn Thành D là bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 6 giờ 40 phút ngày 30-8-2023, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 94E1 -341.79 chở A xuất phát từ nhà trọ tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để đi tìm kiếm việc làm.

Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, A điều khiển xe mô tô trên chở D khi đi đến đoạn đường trước giáo xứ T2 thuộc tổ I, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Lúc này, A nhìn thấy ông Võ Văn R (sinh năm 1966, ngụ tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp) đang đi bộ bán vé số nên A nảy sinh ý định cướp giật tài sản của ông R lấy tiền tiêu xài và rủ D cùng tham gia thì D đồng ý.

Thực hiện ý định trên, A điều khiển xe mô tô trên chở D đi đến nơi ông R đang đứng và giả vờ hỏi ông R đổi cho A 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) thì ông R nói không có nên A và D bỏ đi được khoảng 50m. Sau đó, A và D tiếp tục quay lại giả vờ hỏi ông R đổi 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) thì ông R đồng ý đổi. Sau đó, ông R lấy trong túi đeo trước ngực 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đưa cho A. A dùng tay trái nhận tờ tiền trên từ ông R rồi A dùng tay phải tăng ga bỏ chạy thì ông R truy hô và cùng một số người dân đuổi theo, bắt giữ A và D giao Công an phường P biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xử lý.

- Vật chứng thu giữ:

  • 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông R.
  • 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 94E1 -341.79 thuộc sở hữu của bà Diệp Thị L1 (là mẹ ruột của D), không biết D lấy sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà L1.

Tại Cáo trạng số: 729/CT-VKSBH ngày 24/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Danh Nguyễn Thịnh A và Nguyễn Thành D về tội “Cướp giật tài sản” điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

+ Áp dụng tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 90, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đối với bị cáo Nguyễn Thanh D2 áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

- Xử phạt bị cáo Danh Nguyễn Thịnh A mức án từ 18 tháng đến 20 tháng về tội “Cướp giật tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D mức án từ 16 tháng đến 18 tháng về tội “Cướp giật tài sản”.

+ Xử lý vật chứng:

  • Trả lại 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng cho ông Võ Văn R.
  • Trả lại cho bà Diệp Thị L1 (là mẹ ruột của D) 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 94E1 -341.79 thuộc sở hữu của bà L1.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Trợ giúp viên pháo lý bào chữa cho bị cáo D3 Nguyễn Thịnh A và Nguyễn Thành D: Thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Tuy nhiên về hình phạt vị đại diện viện kiểm sát đề nghị là quá cao. Bởi, các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nhận thức còn hạn chế, hành vi xảy ra bộc phát, quá trình Tòa án chuẩn bị xét xử cha mẹ của 02 bị cáo đã khắc phục cho hại số tiền 2.000.000đồng. Ngoài ra, thân nhân gia đình của bị cáo A có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 và cho các bị cáo được hưởng án treo.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành D phát biểu quan điểm: Thống nhất với quan điểm truy tố, mức hình phạt của Viện kiểm sát. Tuy nhiên bị cáo D phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nhận thức còn hạn chế, vì bị cáo cướp giật số tiền không lớn, trình độ nhận thức thấp theo quy định tại điểm h, i, m Điều 51 của Bộ luật hình sự. Từ phân tích trên, bị cáo D có 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên của Điều 51, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự tụt khung hình phạt và cho bị cáo D được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với qui định của pháp luật.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, lời khai của họ đã đầy đủ và có trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng, vật chứng, kết quả giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; qua đó đã có căn cứ để kết luận: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/8/2023, tại đoạn đường trước giáo xứ T2 thuộc tổ I, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, D3 Nguyễn Thịnh A và Nguyễn Thành D đã có hành vi dùng xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 94E1 - 341.79 để cướp giật số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của ông Võ Văn R thì bị bắt quả tang. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của các bị cáo D3 Nguyễn Thịnh A và Nguyễn Thành D đã phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Nên cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi của các bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm, song ở mức độ giản đơn. Xét thấy các bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức còn hạn chế về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do mình gây ra, nên áp dụng Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình của các bị cáo đã bồi thường phần dân sự cho bị hại, đồng thời bị hại có đơn xin bãi nại cho các bị cáo, gia đình bị cáo An thân n có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Danh Nguyễn Thịnh A có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 nên được áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Thành D là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng vai trò không đáng kể nên áp dụng khoản 2 Điều 54. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Xử lý vật chứng:

  • Trả lại 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) cho ông Võ Văn R.
  • 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 94E1 -341.79 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà Diệp Thị L1 ngày 19/10/2023.

[6] Về dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Xét đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo thì thấy: Luật sư cho rằng các bị cáo cướp giật số tiền không lớn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, i, và m Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 là không có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Đối với những phần bào chữa khác cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Danh Nguyễn Thịnh A phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Danh Nguyễn Thịnh A 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt để chấp hành hình phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 30/8/2023 đến ngày 08/9/2023.

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt để chấp hành hình phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 30/8/2023 đến ngày 08/9/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Ngày 11/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông Võ Văn R 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
  • Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà Diệp Thị L1 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 94E1 - 341.79.

3. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Võ Văn R có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Đại diện hợp pháp cho bị cáo;
  • - Người bào chữa cho các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - CATP. Biên Hòa;
  • - THADS TP. Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Danh Nguyễn Thịnh An và Nguyễn Thành Duy là bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 6 giờ 40 phút ngày 30-8-2023, Duy điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 94E1 -341.79 chở An xuất phát từ nhà trọ tại xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai để đi tìm kiếm việc làm. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, An điều khiển xe mô tô trên chở Duy khi đi đến đoạn đường trước giáo xứ Tân Cang thuộc tổ 9, khu phố Tân Lập, phường Phước Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Lúc này, An nhìn thấy ông Võ Văn Rê (sinh năm 1966, ngụ tại thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) đang đi bộ bán vé số nên An nảy sinh ý định cướp giật tài sản của ông Rê lấy tiền tiêu xài và rủ Duy cùng tham gia thì Duy đồng ý. Thực hiện ý định trên, An điều khiển xe mô tô trên chở Duy đi đến nơi ông Rê đang đứng và giả vờ hỏi ông Rê đổi cho An 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) thì ông Rê nói không có nên An và Duy bỏ đi được khoảng 50m. Sau đó, An và Duy tiếp tục quay lại giả vờ hỏi ông Rê đổi 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) thì ông Rê đồng ý đổi. Sau đó, ông Rê lấy trong túi đeo trước ngực 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đưa cho An. An dùng tay trái nhận tờ tiền trên từ ông Rê rồi An dùng tay phải tăng ga bỏ chạy thì ông Rê truy hô và cùng một số người dân đuổi theo, bắt giữ An và Duy giao Công an phường Phước Tân lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra, xử lý.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger