|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2024
V/v Tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Xuyến;
- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thuận – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường – Kiểm Sát Viên.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 559/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn số : 363/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm 1991
Địa chỉ: D L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên lạc: 267/3C ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Mohamach A, sinh năm 1979
Địa chỉ: D L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân N trình bày: bà và ông Mohamach A tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2014, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 116 ngày 16/12/2014). Theo bà N cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ năm 2021 (đó là khoảng thời gian vợ chồng sống chung tại nhà thuê số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh), ông Mohamach A đã đánh đập và xô xát bà, gây tổn thương về thể xác lẫn tinh thần, hơn nữa còn gây ảnh hưởng tâm lý hoảng sợ cho các con, làm mất trật tự xã hội nơi bà đang sống. Do vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Bà nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống. Về con chung: có 02 con chung tên là Nguyễn Lê Gia B, sinh ngày 16/11/2014 và Nguyễn Lê Bảo C, sinh ngày 20/7/2016. Khi ly hôn bà đề nghị được giữ nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Mohamach A (vắng mặt).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: các đương sự đã chấp hành qui định pháp luật, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng đúng theo qui định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết Tòa án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân N khởi kiện, yêu cầu ly hôn với ông Mohamach A nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn. Bị đơn cư trú tại Quận C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân N có đơn đề nghị được vắng mặt khi Tòa án tiến hành xét xử vụ án ly hôn. Ông Mohamach A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần mà vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông Mohamach A.
[3] Về hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 116 ngày 16/12/2014 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa cấp nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Mohamach A là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn bà N cho rằng thời gian đầu hôn nhân, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp, vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn. Tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định căn cứ cho ly hôn là về việc vợ, chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Mohamach A phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài. Vợ chồng không còn chung sống, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau do đó mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C1.
[4] Về nuôi con chung :
Tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...” Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lê Gia B, sinh ngày 16/11/2014 và Nguyễn Lê Bảo C, sinh ngày 20/7/2016, bà N không yêu cầu ông Mohamach A cấp dưỡng nuôi con. Xét, hai con chung hiện đang chung sống với mẹ và đi học, phát triển bình thường. Ông Mohamach A đã nhận được giấy triệu tập nhưng không có ý kiến về vấn đề này. Các con đều có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Việc cấp dưỡng nuôi con hai con tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, giao bà N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lê Gia B, sinh ngày 16/11/2014 và Nguyễn Lê Bảo C, sinh ngày 20/7/2016 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về tài sản chung:
các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Xuân N phải chịu án phí ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 267, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a Khoản 5, điểm b Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử :
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân N.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân N được ly hôn với ông Mohamach A.
- Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị Xuân N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lê Gia B, sinh ngày 16/11/2014 và Nguyễn Lê Bảo C, sinh ngày 20/7/2016. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ông Mohamach A được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung; Không ai được cản trở cha mẹ thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Trong quá trình nuôi dưỡng, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản và nợ chung: bà Nguyễn Thị Xuân N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Xuân N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002315 ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3. Bà N đã nộp đủ án phí. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Xuân N và ông Mohamach A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp “ly hôn”
- Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Ly hôn”
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
