TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 – 4 – 2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Hường
- Bà Đàng Thị Hồng Lam
- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 16/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 325/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/12/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/3/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệu L, sinh năm 1993. (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1989. (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/12/2023 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Diệu L trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Văn H chung sống với nhau tự nguyện từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N ngày 18/10/2013. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 8 năm 2023 đến nay vợ chồng sống ly thân, mạnh ai nấy sống, không quan tâm thăm hỏi nhau. Nay tình cảm của bà với ông H không còn, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung là cháu Huỳnh Tấn H1, sinh 11/02/2012 và cháu Huỳnh Tấn K, sinh 12/6/2014 hiện đang sống với bà, bà yêu cầu tiếp tục được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Hiện bà đang làm đầu bếp, thu nhập trung bình mỗi tháng 8 triệu đồng, đủ khả năng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Biên bản lấy lời khai ngày 23/01/2024 bị đơn ông Huỳnh Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Ông với bà Trần Thị Diệu L chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau đôi lúc có xảy ra mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng. Nay bà L xin ly hôn ông không đồng ý vì ông còn thương yêu vợ con, ông mong được đoàn tụ để vợ chồng cùng nuôi dạy con cái.
Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung là cháu H1 và K là đúng. Hiện các cháu đang sống với bà L. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, ông đồng ý giao hai con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu quan điểm tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Huỳnh Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 02 nhưng vẫn cố tình vắng mặt, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS là có căn cứ.
Về nội dung: Bà Trần Thị Diệu L và ông Huỳnh Văn H chung sống với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm năm 2023 đến nay, không quan tâm nhau. Đề nghị HĐXX, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Diệu L. Về con chung: xét nguyện vọng của cháu H1 và K được sống với mẹ, mặt khác các cháu hiện đang sống với bà L và được bà L chăm sóc tốt, ông H cũng không có tranh chấp về con chung nên giao các con chung H1 và K cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Trần Thị Diệu L khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xin ly hôn với ông Huỳnh Văn H trú tại thôn L, xã A, huyện N và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Đối với bị đơn là ông Huỳnh Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 02 nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định của pháp luật.
[2] Nội dung khởi kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diệu L và ông Huỳnh Văn H chung sống với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N ngày 18/10/2013 trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau do bất đồng về quan điểm sống. Biên bản xác minh ngày 15/01/2024 tại ban Q, xã A, huyện N cung cấp thông tin: “...Ông H, bà L chung sống với nhau không được hòa thuận, thường xảy ra cãi vã, to tiếng. Bà L đã bỏ về sống với cha mẹ tại thôn M, xã P, huyện N, vợ chồng không quan tâm chăm sóc nhau...”. Chứng tỏ bà L và ông H hiện đang sống ly thân, không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà L đề nghị được ly hôn với ông H là có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Trần Thị Diệu L và ông Huỳnh Văn H có hai người con chung là cháu Huỳnh Tấn H1, sinh 11/02/2012 và cháu Huỳnh Tấn K, sinh 12/6/2014 hiện đang sống với bà L. HĐXX nhận thấy nguyện vọng của các cháu H1 và K được sống với bà L và đang được bà L chăm sóc tốt, mặt khác trong quá trình giải quyết ông H không có tranh chấp về con chung, nên giao hai con chung là cháu Huỳnh Tấn H1 và cháu Huỳnh Tấn K cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của bà L.
[3] Về án phí: Bà L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Diệu L.
1/. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diệu L được ly hôn với ông Huỳnh Văn H.
2/. Về con chung: Giao các cháu Huỳnh Tấn H1, sinh 11/02/2012 và cháu Huỳnh Tấn K, sinh 12/6/2014 cho bà Trần Thị Diệu L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Huỳnh Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Diệu L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001048, ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Bà L đã nộp đủ án phí DSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4/. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/4/2024), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Cường |
Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
