Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN K

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/9/2024

“V/v: “Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Dũng và bà Đào Thị Hải Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên: Ông Dương Sơn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 12/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 67/2024/TLST- HNGĐ ngày 05/6/2024 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 18/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 15/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST - HNGĐ ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn S - Sinh năm: 1971 (vắng mặt).
    HKTT, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  2. Bị đơn: Bà Vũ Thị T - sinh năm 1971 (vắng mặt).
    HKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 1.3 Anh Trần Văn S1 - sinh năm: 1991 (vắng mặt).
    • 2.3 Anh Trần Văn T1 - sinh năm: 1993 (vắng mặt).
    • 3.3 Chị Trần Thị T2 - sinh năm: 1997 (vắng mặt).
    • Đều có HKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  4. Người làm chứng:
    • 1.4 Ông Vũ Văn Đ - sinh năm: 1954 (vắng mặt).
    • Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Trần Văn S trình bày:

Về hôn nhân: Ông kết hôn với bà Vũ Thị T, sinh năm 1971 là người cùng thôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, ông, bà đã được UBND xã Đ đăng ký kết hôn năm 1990, tuy nhiên do thiên tai, lũ lụt nên không còn lưu giữ được Giấy đăng ký kết hôn nên ông không cung cấp thông tin cũng như tài liệu chứng minh việc đăng ký kết hôn của vợ chồng ông cho Tòa án được.

Sau khi kết hôn, bà T chuyển khẩu và về chung sống cùng với ông tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên, vợ chồng ông thường phải đi làm ăn xa nhưng thường xuyên quay về địa phương sinh sống. Quá trình chung sống, mặc dù không biểu hiện rõ về mâu thuẫn, nhưng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm rất lạnh nhạt, nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, vợ chồng chung sống không có tình cảm. Từ năm 2013 vợ chồng ông đã ly thân, thời gian đầu, vì các con còn nhỏ cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cả hai vợ chồng nên ông đã tìm mọi biện pháp để vợ chồng hòa giải đoàn tụ nhưng bà T cương quyết không đồng ý. Đến những năm gần đây, xác định tình cảm vợ chồng không còn, các con ông, bà cũng đã trưởng thành nên ông không có ý định hòa giải đoàn tụ nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, ông đề nghị được ly hôn với bà T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng ông có ba con chung là anh Trần Văn S1, sinh năm 1991, anh Trần Văn T1, sinh năm: 1993 và chị Trần Thị T2, sinh năm 1997, hiện cả ba anh, chị đã trưởng thành trên 18 tuổi nên ông không yêu cầu đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp chung và về đất nông nghiệp 03 của vợ chồng: Không có gì liên quan, ông không yêu cầu đặt ra xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết ông S đề nghị và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người làm chứng ông Vũ Văn Đ trình bày: Ông là anh trai của bà Vũ Thị T. Năm 1990 gia đình ông tổ chức cho bà T kết hôn cùng ông S và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn bà T về chung sống cùng ông S. Quá trình chung sống, về nguyên nhân ông không nắm rõ nhưng đến khoảng năm 1999 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà T bỏ đi làm ăn và không có chỗ ở ổn định nhưng vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, bà T vẫn thường xuyên liên lạc với ông. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa ông S và bà T, ông cũng đã nhận thay các văn bản tố tụng và thông báo cho bà T biết, bản thân bà T và các con bà T đã nắm được việc ông S đang làm thủ tục xin ly hôn với bà tại Tòa án, bà T có quan điểm không nhất trí, để mặc ông S giải quyết, bà không về Tòa án làm việc. Vợ chồng bà T có ba con chung là anh Trần Văn S1, anh Trần Văn T1 và chị Trần Thị T2 đều đã trưởng thành có gia đình riêng và không sinh sống tại địa phương. Về các vấn đề liên quan ông không nắm rõ. Nay ông S xin ly hôn với bà T, do ông S, bà T đã mâu thuẫn từ lâu nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

Kết quả xác minh tại UBND xã Đ xác định: Qua kiểm tra sổ Đăng ký kết hôn năm 1989, 1990, 1991 được lưu trữ không thể hiện việc ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị T3 có đăng ký kết hôn, nhưng ông bà chung sống với nhau từ năm 1990 và đã có 03 con chung là anh Trần Văn S1, sinh năm 1991, anh Trần Văn T1, sinh năm 1993 và chị Trần Thị T2, sinh năm 1997 đều đã trưởng thành có gia đình riêng nhưng không sinh sống tại địa phương. Về diễn biến và nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm rõ do vợ chồng ông S đi làm ăn xa, thỉnh thoảng quay về địa phương, theo địa phương được biết vợ chồng ông S đã ly thân nhiều năm nay. Ngoài ra chính quyền địa phương còn đưa ra quan điểm các vấn đề liên quan. Nay ông S xin ly hôn với bà T3, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Kết quả xác minh tại Phòng tư pháp huyện K xác định: Qua kiểm tra sổ Đăng ký kết hôn của UBND xã Đ được lưu trữ năm 1989, 1990, 1991 không thể hiện nội dung ông Trần Văn S, sinh năm 1971 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1971, đều trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần giao các văn bản tố tụng, đồng thời triệu tập bà T đến để giải quyết việc ly hôn với ông S, nhưng bà T đều vắng mặt không có lý do, ông S có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Nguyên đơn vắng mặt do đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người làm chứng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng trong vụ án. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật vì đã không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
  2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 144; khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư số 01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Về hôn nhân: Xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần văn S và bà Vũ Thị T. Về con chung: Không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung; Công nợ chung của vợ chồng; Đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của ông S, bà T đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: ông S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Ngày 03/6/2024, ông Trần Văn S có đơn khởi kiện bà Vũ Thị T, xin được ly hôn, bà Vũ Thị T, hộ khẩu thường trú, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện K thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt do đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Vì vậy, căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

  3. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn S và bà Vũ Thị T về chung sống cùng nhau hoàn toàn tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc. Sau thời gian chung sống, hai bên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng không còn tình cảm, sống ly thân đã lâu, không quan tâm chăm sóc nhau. Quá trình giải quyết, ông S khẳng định quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn, không hạnh phúc và đã ly thân nhiều năm nay, cả hai không còn quan tâm, chăm sóc nhau, gia đình động viên để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả phù hợp với lời khai của anh trai bà T là ông Vũ Văn Đ cũng như kết quả xác minh tại địa phương. Quá trình giải quyết ông S cương quyết xin ly hôn, bà T đã được triệu tập nhiều lần nhưng không đến, không tham gia hòa giải và không thể hiện thiện trí vợ chồng đoàn tụ, cuộc sống, hạnh phúc gia đình đang ở tình trạng trầm trọng. Qua các tài liệu Tòa án xác minh, thu thập cho thấy ông S, bà T chung sống từ năm 1990 đến nay, hai bên vẫn chưa làm thủ tục mặc dù đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư số 01/2016/TTLT – TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, cần xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Văn S và bà Vũ Thị T.
  4. Về nuôi con chung: Vợ chồng ông, bà 03 con chung là anh Trần Văn S1, sinh năm 1991, anh Trần Văn T1, sinh năm 1993 và chị Trần Thị T2, sinh năm 1997 đều đã trưởng thành trên 18 tuổi nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về tài sản chung; Công nợ chung của vợ chồng; Đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Do ông S không yêu cầu, bà Vũ Thị T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Trần Văn S1, Trần Văn T1 và chị Trần Thị T2 vắng mặt chưa có ý kiến và yêu cầu phân chia nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này. Khi nào ông S, bà T, anh S1, anh T1 và chị T2 có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 144; khoản 4 Điều 147, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Ông S phải chịu án phí theo quy định.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dâm sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 28, Điều 35, Điều 39; khoản 2 Điều 144; khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư số 01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Văn S và bà Vũ Thị T.
  2. Về con chung: Không đặt ra giải quyết..
  3. Về tài sản chung; công nợ chung của vợ chồng; đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết. Khi nào ông Trần Văn S, bà Vũ Thị T, anh Trần Văn S1, anh Trần Văn T1 và chị Trần Thị T2 có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.
  4. Về án phí: Ông Vũ Văn S2 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông S2 đã nộp theo biên lai thu số 0000966 ngày 05/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Ông S2 đã thi hành xong phần án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện K;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Đ;
  • - Chi cục THADS huyện KĐ;
  • - Lưu: Hồ sơ, Vp.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Duy Trĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HƯNG YÊN về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 12/9/2024 giữa ông S và bà T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger