Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-PT

Ngày 21-11-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê

Các Thẩm phán:Bà Huỳnh Ái Loan

Bà Ngô Thị Kim Châu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễn Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân thị xã D vụ án dân sự thụ lý số 16/2024/TLPT-HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Do bản án sơ thẩm số 32/2023/HNGĐ-ST, ngày 28-12-2023 của Tòa án nhân dân thị xã D bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 139/2024/QĐ-PT, ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1988; cư trú tại Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Tấn D, sinh năm 1986; cư trú tại Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thúy N là nguyên đơn.

Ngoài ra, còn có bà Lê Thị C, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã D tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 9 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy N trình bày: Chị và anh Lê Tấn D kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do anh D thường hay ghen vô cớ, mỗi khi anh D đi làm và có uống rượu thì về nhà cự cải với chị. Anh D không cho chị đi làm mà kêu chị ở nhà lo công việc nội trợ và nuôi con, nhưng anh D đưa tiền chị không đủ sinh hoạt hằng ngày, nên chị cảm thấy vợ chồng không còn hạnh phúc và làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

Về con chung: Có một người tên Lê Nguyễn Băng B, sinh ngày 13/4/ 2019, hiện nay do chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bị đơn anh Lê Tấn D trình bày: Anh thống nhất theo lời trình bày của chị N về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn và thời gian sống chung. Đồng thời, anh thừa nhận khi chị N đi phụ bán quán ăn cho người khác thì anh có ghen nên kêu chị N nghỉ đi làm, ở nhà lo công việc nội trợ và nuôi con. Từ đó, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ. Hiện nay, anh vẫn còn thương chị N nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N mà Tòa án giải quyết cho đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau nuôi con chung.

Về con chung: Có một người tên Lê Nguyễn Băng B, sinh ngày 13/4/ 2019, hiện nay do chị N đang nuôi dưỡng. Do anh xin đoàn tụ nên đề nghị Tòa án không giải quyết việc nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản án sơ thẩm số 32/2023/HNGĐ-ST, ngày 28-12-2023 của Tòa án nhân dân thị xã D đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy N về việc xin ly hôn với anh Lê Tấn D.
  2. Về con chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hôn nhân sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/01/2024, chị Nguyễn Thị Thúy N làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử cho chị N được ly hôn với anh Lê Tấn D.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, anh D đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N, đây là sự tự nguyện của anh D, sự tự nguyện ly hôn giữa chị N và anh D không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N, sửa bản án sơ thẩm, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và không rút đơn kháng cáo; các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Cụ thể như sau:

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Lê Tấn D tự nguyện ly hôn với nhau. Sự tự nguyện của chị N và anh D không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N, sửa bản án sơ thẩm, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh D.
  2. Về con chung: Chị N và anh D thỏa thuận thống nhất giao chị N được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Nguyễn Băng B, sinh ngày 13/4/2019. Anh D không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  5. Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N, sửa bản án sơ thẩm, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh D, là có căn cứ.
  6. Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của chị N được Tòa án phúc thẩm chấp nhận, nên chị N không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm chị N bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0002128, ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp. Buộc chị N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thúy N.

Sửa bản án sơ thẩm số 32/2023/HNGĐ-ST, ngày 28-12-2023 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Lê Tấn D tại phiên tòa phúc thẩm. Cụ thể như sau:

  1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Lê Tấn D.
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Lê Tấn D thỏa thuận giao chị Nguyễn Thị Thúy N được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Nguyễn Băng B, sinh ngày 13/4/2019. Anh D không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Lê Tấn D được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, chị Nguyễn Thị Thúy N và các thành viên gia đình không được cản trở. Trường hợp anh Lê Tấn D lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị Thúy N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Lê Tấn D.

  3. Về tài sản chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Thúy N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Thúy N đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0019569, ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp.

    Hoàn trả tiền tạm ứng án phí hôn nhân phúc thẩm chị Nguyễn Thị Thúy N bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0002128, ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND thị xã D;
  • - Chi cục THADS thị xã D;
  • - UBND Phường B, thị xã D;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HNGĐ-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 18/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa Nguyễn Thị Thúy Ng với Lê Tấn D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger