|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HNGĐ-PT Ngày 09-9-2024 V/v: Chia tài sản sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Minh Huệ và ông Phạm Ngọc Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về chia tài sản sau khi ly hôn.
Do bản án dân sự sơ thẩm số Bản án số 17/2024/HNGĐ - ST ngày 10/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 58/2024/QĐXX-PT ngày 25/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số /2024/QĐ-PT ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Thế N, sinh năm 1976
Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1979
Nơi cư trú: C, tầng 2, chung cư T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Ông Phạm Văn H1 - Luật sư, Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư tỉnh T. Địa chỉ: Số B, đường T, tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh Thái Bình
Địa chỉ: Số 458, phố Lý Bôn, phường Đề Thám, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Minh Đ – Chuyên viên XLN-TT xử lý nợ Ngân hàng TMCP Q. - Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Thái Bình
Địa chỉ: Tòa nhà V1, số D, phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang T – Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh T6. - Bà Trần Thị T1, sinh năm 1950
Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình. - Chị Vũ Thị Anh Đ1, sinh năm 1987
Nơi cư trú: Thôn Á, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. - Chị Trần Thị L, sinh năm 1973
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. - Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1970
Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình. - Anh Vũ Quang T2, sinh năm 1982
Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Do có kháng cáo của bị đơn - Chị Vũ Thị H và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Người kháng cáo: Chị Vũ Thị H - Bị đơn.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn – Anh Vũ Thế N trình bày: Anh và chị Vũ Thị H3 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K ngày 01/3/2004, nhưng do mâu thuẫn vợ chồng nên anh và chị H3 đã thuận tình ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 13/2022/QÐST-HNGĐ ngày 21/3/2022 đã quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa anh và chị H3, công nhận sự thỏa thuận của anh chị về việc nuôi con chung, về tài sản chung thì anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau khi ly hôn nhiều lần anh và chị H3 nói chuyện, bàn bạc về việc phân chia tài sản chung nhưng đều không thỏa thuận và thống nhất được. Vì vậy, anh khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn, cụ thể như sau:
- Về đất:
- 01 thửa đất có diện tích 90m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HD 094985 và 01 thửa đất có diện tích 90m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 182113 đều mang tên Vũ Thế N và Vũ Thị H; địa chỉ của 02 thửa đất: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trị giá 02 thửa đất khoảng 2.200.000.000 đồng.
- 01 thửa đất có diện tích 91,4m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 460247 mang tên Vũ Thế N và Vũ Thị H; địa chỉ của thửa đất: Tổ dân phố Q, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình. Trị giá thửa đất khoảng 1.100.000.000 đồng
- Về nhà:
- 01 ngôi nhà (thuộc dự án phát triển nhà tương lai), diện tích xây dựng là 405,8m², trên diện tích đất 95m², số lô LK12-55 tại đường K, thành phố T, theo Hợp đồng chuyển nhượng số 5773 ngày 16/10/2020 mang tên Vũ Thế N và Vũ Thị H. Trị giá khoảng 5.500.000.000 đồng.
- 01 nhà kiểu biệt thự, diện tích xây dựng 360m², trên diện tích đất 350m² xây trên đất của bà Trần Thị T1 (là mẹ đẻ) thuê của Nhà nước để kinh doanh. Trị giá nhà khoảng 2.100.000.000 đồng.
- Các tài sản khác:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Peugeot 508, biển kiểm soát 17A-070.60 mang tên Vũ Thị H, do anh đang quản lý và sử dụng. Trị giá khoảng 600.000.000 đồng.
- 01 xe ô tô khách 16 chỗ, nhãn hiệu SOLATI, biển kiểm soát 17B-022.75 mang tên Vũ Thế N, do anh đang quản lý và sử dụng. Trị giá khoảng 500.000.000 đồng.
- Về nợ:
- Nợ Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh T6 số tiền gốc 101.600.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số 042/16/HĐCV/VN0010225-9354, tài sản đảm bảo cho khoản vay xe ô tô nhãn hiệu SOLATI, biển kiểm soát 17B-022.75, vay để mua xe này.
- Nợ bà Trần Thị T1 tổng số tiền 8.046.000.000 đồng, cụ thể:
- Số tiền 4.246.000.000 đồng vay để trả nợ tiền xây nhà biệt thự năm 2018.
- Số tiền 1.600.000.000 đồng vay để trả lãi các khoản vay, mua ô tô, chi phí sinh hoạt gia đình.
- Số tiền 1.500.000.000 đồng vay để kinh doanh nhà đất.
- Số tiền 700.000.000 đồng để góp vốn với chị Vũ Thị Phương A (em gái chị H) mua khách sạn tại thị trấn T.
- Nợ chị Vũ Thị Anh Đ1 số tiền 2.200.000.000 đồng vay để trả tiền mua nhà lô sô LK12-55 tại đường K, thành phố T.
- Nợ chị Trần Thị L số tiền 1.200.000.000 đồng để trả tiền mua nhà lô sô LK12-55 tại đường K, thành phố T.
- Nợ anh Nguyễn Văn H2 số tiền 500.000.000 đồng vay để trả lãi các khoản vay và chi phí sinh hoạt gia đình.
Anh đề nghị giải quyết về tài sản chung và nợ chung như sau: Về tài sản chung đề nghị chia mỗi người được hưởng 50%, về nợ chung mỗi người phải trả 50%. Đề nghị được sở hữu toàn bộ tài sản và trả toàn bộ số nợ, số nợ còn lại sau khi đối trừ vào tài sản chung thì anh và chị H mỗi người còn phái trả 50%.
Bị đơn là chị Vũ Thị H trình bày:
- Ngôi nhà biệt thự 03 tầng xây năm 2017, trên diện tích đất khoảng 1.500m² đất ruộng chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng, nguồn gốc tiền xây nhà là của vợ chồng. Nguồn gốc đất là chị và anh N mua của anh Vũ Đình N1 (anh trai anh N) 600m² với giá 50.000.000 đồng, do là anh em ruột nên việc mua bán đất không lập thành văn bản, không làm thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mua đất của vợ chồng chị Vũ Thị N2 khoảng 740m² với giá 40.000.000 đồng là tiền của vợ chồng, vợ chồng nhờ bà Trần Thị T1 mua hộ nên giấy tờ mua bán mang tên bà T1. Còn lại khoảng 200m² là đất của nhà nước. Giá trị nhà và đất khoảng 3.500.000.000 đồng.
- Vợ chồng đã mua 15 lô đất có tổng diện tích là 2461m² tại thôn N, xã H, huyện K của ông Đinh Văn V và ông Hoàng Văn T3, đã làm thủ tục chuyển nhượng tại văn phòng C lô, còn lại 03 lô đang làm thủ tục chuyển nhượng.
- Năm 2020, chị và anh N góp 1.080.000.000 đồng với anh Vũ Quang T2 và chị Vũ Thị Phương A (là em ruột chị) để mua chung khách sạn tại thị trấn T.
- Về ô tô, anh N khai còn thiếu 01 xe ô tô nhãn hiệu Spak biển kiểm soát 17B-119.99 mang tên Vũ Thị Phương A, trị giá khoảng 150.000.000 đồng, tiền mua xe là của vợ chồng.
- Cổ phần xe khách giường nằm 02 tầng biển kiểm soát 17B-01324 chạy tuyến Thái Bình-Cao Bằng là 66% tương đương 1.400.000.000 đồng.
- Cổ phần xe khách giường nằm biển kiểm soát 17B-01410 chạy tuyến Thái Bình-Hà Giang là 60% tương đương 1.600.000.000 đồng.
- 40% cổ phần tại Công ty cổ phần H5 do anh N làm giám đốc, gồm: 01 cây xăng; bến bãi xe khách là đất thuê tương đương 6.000.000.000 đồng.
- Cổ phần cùng Công ty P1 01 xe ô tô 16 chỗ biển kiểm soát 17B-1618 chạy tuyến Thái Bình-Hà Nội.
Về các khoản nợ mà anh N đưa ra chi không thừa nhận bất cứ khoản vay nào. Năm 2015, chị vay của chị Vũ Thị Phương A số tiền 1.200.000.000 đồng để mở cửa hàng dược, làm spa và cổ phần xe khách chạy tuyến Thái Bình-Cao Bằng. Năm 2021, vay của anh Nguyễn Đức P ở huyện V số tiền 1.000.000.000 đồng để nộp bảo hiểm cho các con và chi phí sinh hoạt.
Tại bản án số 17/2024/HNGĐ - ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ các Điều 147, 235, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 27, 30, 33, 35, 37,59, 60, 62 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 213, 218, 219 Bộ luật dân sự; Điều 7 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao- Viện kiểm sát nhân dân Tối cao- Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; Điều 24; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 30 Luật thi hành án dân sự:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Thế N về chia tài sản chung, trả nợ chung và chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thị T1 về yêu cầu trả nợ chung. Cụ thể:
- Giao cho anh Vũ Thế N được sở hữu và sử dụng:
- 01 thửa đất số 57 (57)-D5, tờ bản đồ số 02 có diện tích 90m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HD 094985 và 01 thửa đất số 279, tờ bản đồ số 13 có diện tích 90m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 182113 đều mang tên Vũ Thế N và Vũ Thị H; địa chỉ của 02 thửa đất: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trị giá 02 thửa đất là 1.008.000.000 đồng.
- 01 thửa đất sô 479, tờ bản đồ số 19 có diện tích 91,4m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 460247 mang tên Vũ Thế N và Vũ Thị H; địa chỉ của thửa đất: Tổ dân phố Q, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình. Trị giá thửa đất là 575.820.000 đồng.
- 01 thửa đất có diện tích 95m² và 01 ngôi nhà ở thương mại hình thành trong tương lai xây thô số LK12-55/HĐMBNO/DRAGON GROUP, loại nhà liền kề, diện tích xây dượng 85m², tổng diện tích sàn xây dựng là 405,48m² thuộc dự án phát triển nhà ở hai bên đường K kéo dài, xã P, thành phố T. Trị giá nhà, đất là 6.169.180.000 đồng.
- 01 xe ô tô con nhãn hiệu Peugeot, biển kiểm soát 17A-070.60. Trị giá 510.000.000 đồng.
- 01 xe ôt ô 16 chỗ ngồi, nhãn Huyndai Solati, biển kiểm soát 17B-022.75. Trị giá 470.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản anh N được hưởng là 8.733.000.000 đồng.
- Tạm giao cho anh Vũ Thế N quản lý 01 nhà biệt thự 03 tầng một phần xây dựng trên đất thuê, một phần xây dựng trên đất nông nghiệp tại thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình, anh N phải có trách nhiệm xử lý ngôi nhà này khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
- Về nợ: Anh Vũ Thế N có trách nhiệm trả nợ cho bà Trần Thị T1 số tiền là 8.733.000.000 đồng. Số tiền còn nợ bà T1 là 2.163.000.000 đồng buộc anh Vũ Thế N và chị Vũ Thị H mỗi người phải trả bà Trần Thị T1 1.081.500.000 đồng.
- Về án phí:
- Anh Vũ Thế N phải nộp 113.448.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ trả nợ, đối trừ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm anh N đã nộp là 31.000.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0001685 ngày 13/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, anh N còn phải nộp 82.448.000 đồng án phí sơ thẩm.
- Chị Vũ Thị H phải nộp 113.448.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ trả nợ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/4/2024 chị H kháng cáo toàn bộ bản án, chị cho rằng việc TAND huyện Kiến Xương xét xử không đảm bảo quyền lợi của chị.
Ngày 09/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định kháng nghị số 05/QĐKNPT-VKS kháng nghị theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên kháng cáo, anh N đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình huỷ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án. Bà Trần Thị T1 đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Đặng Thị Vân T4 đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại vì Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm trong quá trình thu thập và đánh giá chứng cứ, việc chấp nhận toàn bộ khoản nợ của bà T1 trong khi không có tài liệu chứng cứ chứng minh, các giấy vay nợ chỉ có anh N và bà T1 xác nhận với nhau, chị H không thừa nhận, không có chữ ký của chị H trong các giấy vay nợ đó. Luật sư đồng ý với quan điểm của văn bản kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát tỉnh Thái Bình hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương như phân tích ở trên. Do hủy án về tố tụng nên không xem xét kháng cáo của chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Vũ Thị H làm trong hạn luật định. Ngày 02/5/2024 Tòa án Kiến Xương ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí gửi theo đường bưu điện, chị H được nhận ngày 02/5/2024 và chị H đã nộp cho tiền cho Chi cục THADS huyện K vào ngày 10/5/2024 nên kháng cáo là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình thấy:
[2.1] Về việc giải quyết yêu cầu của đương sự:
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngoài tài sản chung và nợ chung vợ chồng như anh N trình bày, thì bị đơn chị Vũ Thị H còn trình bày vợ chồng còn một số tài sản khác, chị H đã giao nộp được một số chứng cứ, tài liệu liên quan. Các yêu cầu này của chị H đều được đưa ra trước phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, Thẩm phán đã có công văn yêu cầu chị H cung cấp một số tài liệu chứng cứ và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung vợ chồng, nhưng chị H không nộp tiền tạm ứng án phí. Bản án sơ thẩm nhận định chị H không giao nộp được tài liệu, chứng cứ chứng minh, không nộp tạm ứng án phí nên không xem xét giải quyết là không đúng, vi phạm Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bởi lẽ Tòa án đã thụ lý yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng, anh N là nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung vợ chồng do đó trong quá trình giải quyết, việc chị H đưa ra các tài liệu và yêu cầu giải quyết các tài sản chung, nợ chung khác của vợ chồng trong vụ án thì đây không phải là yêu cầu phản tố, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ xem xét giải quyết để chấp nhận hoặc không chấp nhận những đề nghị, yêu cầu của chị H, việc chị H không nộp tiền tạm ứng án phí, không phải là căn cứ để Tòa án không xem xét giải quyết đối với các yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung của chị H.
[2.2] Về việc xác minh thu thập chứng cứ, xem xét thẩm định tại chỗ, đánh giá chứng cứ:
Theo Ủy ban nhân dân xã H cung cấp, ngôi nhà kiểu biệt thự 3 tầng được xây dựng trên một phần đất thuê của ông Vũ Duy D và một phần đất nông nghiệp cấp cho hộ gia đình cá nhân; chị H khai nhận ngôi nhà trên được xây dựng trên phần diện tích đất ruộng chưa chuyển đổi mục đích sử dụng, đất này mua của anh Vũ Đình N1 và của hộ bà Vũ Thị N2 - anh Đoàn Trung H4; anh N1 xác định có việc anh bán cho anh N chị H khoảng 600m2 đất ruộng. Tòa án chưa tiến hành xác minh thu thập chứng cứ và trong quá trình xem xét thẩm định tại chỗ chưa xác định ngôi nhà trên nằm trên diện tích cụ thể của những phần đất nào, của ai, có nằm trên phần đất nông nghiệp như chị H trình bày không, chưa lấy lời khai của bà Vũ Thị N2 và anh Đoàn Trung H4 để xác định việc mua bán đất nông nghiệp xây dựng ngôi nhà nêu trên có đúng hay không.
Việc Bản án chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Trần Thị T1 (mẹ đẻ anh N) và xác định đây là khoản nợ chung của anh N, chị H, khi chỉ căn cứ vào giấy nhận nợ giữa bên vay là anh Vũ Thế N và bên cho vay là bà Trần Thị T1, trong khi chị H không thừa nhận là chưa đủ cơ sở bởi lẽ: Tòa án không yêu cầu anh N giao nộp các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho việc khai nhận của mình như chi phí để xây dựng ngôi nhà kiểu biệt thự 3 tầng mà chấp nhận toàn bộ số nợ 4.246.000.000 đồng, anh N vay của bà T1 là nợ chung vợ chồng để xây nhà là chưa khách quan, chưa thu thập hết các tài liệu chứng cứ. Tương tự đối với các khoản vay 1.600.000.000 đồng, để trả lãi các khoản vay và chi phí sinh hoạt gia đình nhưng không xác minh làm rõ việc sử dụng số tiền này để trả lãi các khoản vay nào? các chi phí sinh hoạt gia đình như thế nào? không xác định làm rõ việc anh N sử dụng khoản vay 1.500.000.000 đồng để kinh doanh bất động sản ở đâu? Chị H trình bày nguồn tiền xây dựng nhà kiểu biệt thự là của hai vợ chồng. Bản thân anh N chị H đều khai nhận trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có nghề nghiệp, có thu nhập; anh chị có đầu tư kinh doanh bất động sản (chị H giao nộp nhiều hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đó bên nhận chuyển nhượng là anh N và chị H, thực tế anh chị cũng có nhiều bất động sản đứng tên anh chị). Anh N và chị H có mâu thuẫn trong lời khai, nhưng Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, đối chất để làm rõ là chưa đảm bảo sự quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
[2.3] Về việc xác định người vào tham gia tố tụng:
Anh N khai nhận đã nhiều lần vay tiền của bà Trần Thị T1 là mẹ đẻ của anh và các khoản vay này có giấy nhận nợ giữa anh N và bà T1, bà Trần Thị T1 và ông Vũ Duy D là vợ chồng, song Tòa án chưa xác minh làm rõ đây là tiền riêng của bà T1 hay tiền chung của vợ chồng bà T1, ông D để xem xét đưa ông D vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Ngôi nhà biệt thự 3 tầng được xây dựng trên một phần đất thuê Nhà nước đã được cấp giấy chứng nhận mang tên ông Vũ Duy D, tuy nhiên Bản án lại nhận định xây trên một phần đất thuê của bà Trần Thị T1 là không chính xác; mặt khác phần Quyết định của bản án tạm giao phần tài sản được xây dựng trên đất thuê của ông Vũ Duy D mà không đưa ông D vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của ông Vũ Duy D. Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án chị Vũ Thị H trình bày năm 2021 chị có vay của anh Nguyễn Đức P ở xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình số tiền 1.000.000.000 đồng để nộp bảo hiểm cho các con và chi phí sinh hoạt, chị đã cầm cố ngôi nhà ngôi nhà (thuộc dự án phát triển nhà tương lai), diện tích xây dựng là 405,8m, trên diện tích đất 95m, số lô LK12-55 tại đường K, thành phố T, theo Hợp đồng chuyển nhượng số 5773 ngày 16/10/2020 mang tên Vũ Thế N và Vũ Thị H nhưng Toà án cấp sơ thẩm không lấy lời khai của anh P, không đưa anh P vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của anh P cũng như chị H. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét thu thập chứng cứ để đưa ông Vũ Duy D, anh Nguyễn Đức P vào tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự vi phạm khoản 4 và khoản 6 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Việc Tòa án chưa xem xét thu thập chứng cứ để đưa ông Vũ Duy D, anh Nguyễn Đức P vào tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự vi phạm khoản 4 và khoản 6 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Như vậy, Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 10/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, vi phạm trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ; chưa xem xét để xác định và đưa đầy đủ người tham gia tố tụng trong vụ án, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, cần hủy bản án sơ thẩm như quan điểm của đại diện VKS tham gia phiên tòa.
[3] Xét nội dung kháng cáo của chị Vũ Thị H thấy: Do cần phải hủy án vì vi phạm tố tụng nên không xem xét kháng cáo của chị H.
[3] Về án phí: Về án phí ly hôn sơ thẩm, nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Về án phí phúc thẩm, do kháng nghị được chấp nhận nên anh N, chị H không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2022/DS-ST ngày 23/9/2022 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[2]. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án: Chị Vũ Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 09/9/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Duy Luân |
Bản án số 18/2024/HNGĐ-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 18/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nh - H
